Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Iz*One”
nKhông có tóm lược sửa đổi Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động |
|||
(Không hiển thị 38 phiên bản của 20 người dùng ở giữa) | |||
Dòng 12: | Dòng 12: | ||
| genre = {{hlist|[[K-pop]]|[[J-pop]]|[[EDM]]|[[synth-pop]]|[[nhạc dance|dance]]|[[acoustic]]|[[ballad]]}} |
| genre = {{hlist|[[K-pop]]|[[J-pop]]|[[EDM]]|[[synth-pop]]|[[nhạc dance|dance]]|[[acoustic]]|[[ballad]]}} |
||
| years_active = {{Start date|2018}}–{{End date|2021}} |
| years_active = {{Start date|2018}}–{{End date|2021}} |
||
| agency = {{hlist|Off The Record{{efn|Tháng 8 năm 2021, CJ ENM chính thức hợp nhất các hoạt động sản xuất nội bộ những công ty quản lý của mình là [[Stone Music Entertainment]], One Effect Entertainment, Studio Blu, Off the Record và thành lập nên WakeOne.<ref>{{chú thích web | url=https://m.joynews24.com/v/1392521 | title=CJ ENM "Mnet max 론칭·웨이크원 출범, 음악산업 리더 될 것" | access-date=2022-07-24 | archive-date=2021-08-03 | archive-url=https://web.archive.org/web/20210803000602/http://m.joynews24.com/v/1392521 | url-status=live }}</ref><ref>{{chú thích web | url=https://n.news.naver.com/entertain/article/312/0000492848 | title=Cj Enm "산하 엔터테인먼트 통합해 웨이크원으로 출범" | access-date=2022-07-24 | archive-date=2022-07-24 | archive-url=https://web.archive.org/web/20220724042216/https://n.news.naver.com/entertain/article/312/0000492848 | url-status=live }}</ref>}}|[[Swing Entertainment|Swing]]}} |
|||
| agency = {{hlist|Off The Record|[[Swing Entertainment|Swing]]}} |
|||
| label = {{hlist|[[Stone Music Entertainment|Stone Music]]|[[Genie Music|Genie]]|[[EMI Music Japan|EMI]]|[[Vernalossom]]<ref>{{chú thích web|url=https://www.daily.co.jp/gossip/2020/01/20/0013049833.shtml|title=AKSが国内AKB全グループから撤退 |
| label = {{hlist|[[Stone Music Entertainment|Stone Music]]|[[Genie Music|Genie]]|[[EMI Music Japan|EMI]]|[[Vernalossom]]<ref>{{chú thích web|url=https://www.daily.co.jp/gossip/2020/01/20/0013049833.shtml|title=AKSが国内AKB全グループから撤退...HKTなど6グループは独立採算制に|work=Daily Sports|date=ngày 20 tháng 1 năm 2020|access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2020|language=ja}}</ref>}} |
||
| associated_acts = {{hlist|[[AKB48]]|[[HKT48]]|[[Ive]]|[[Le Sserafim]]}} |
| associated_acts = {{hlist|[[AKB48]]|[[HKT48]]|[[Ive]]|[[Le Sserafim]]}} |
||
| notable_songs = {{hlist|[[La Vie en Rose (bài hát của Iz*One)|La Vie en Rose]]|[[Violeta (bài hát của Iz*One)|Violeta]]|[[Fiesta (bài hát của Iz*One)|Fiesta]]|[[Secret Story of the Swan]]|[[Panorama (bài hát của Iz*One)|Panorama]]}} |
| notable_songs = {{hlist|[[La Vie en Rose (bài hát của Iz*One)|La Vie en Rose]]|[[Violeta (bài hát của Iz*One)|Violeta]]|[[Fiesta (bài hát của Iz*One)|Fiesta]]|[[Secret Story of the Swan]]|[[Panorama (bài hát của Iz*One)|Panorama]]}} |
||
Dòng 43: | Dòng 43: | ||
}} |
}} |
||
| module2 = |
| module2 = |
||
|Hình=https://www.google.com/imgres?q=izone&imgurl=https%3A%2F%2Frp.liu233w.com%3A443%2Fhttps%2Fwww.zila.com.vn%2Fwp-content%2Fuploads%2F2020%2F05%2Fizone.jpg&imgrefurl=https%3A%2F%2Frp.liu233w.com%3A443%2Fhttps%2Fwww.zila.com.vn%2Fizone.html&docid=7FbEoCAWWlJTsM&tbnid=uiiUy12E7iGcRM&vet=12ahUKEwjZp6ulxvyJAxUHkq8BHab_Jf4QM3oECE0QAA..i&w=900&h=611&hcb=2&ved=2ahUKEwjZp6ulxvyJAxUHkq8BHab_Jf4QM3oECE0QAA}} |
|||
}} |
|||
<small> |
<small>{{IPA notice}}</small> |
||
'''IZ*ONE''' ({{IPAc-en|ˈ|aɪ|z|_|w|ʌ|n}} {{respell|EYEZ|wun}}, {{lang-ko|아이즈원}}, {{lang-ja|アイズワン}}) là một [[nhóm nhạc nữ]] [[thần tượng K-pop|thần tượng Hàn Quốc]]–[[thần tượng Nhật Bản|Nhật Bản]]<ref name=":0">{{chú thích web|url=https://www.billboard.com/articles/columns/k-town/8482221/korean-japanese-girl-group-izone-la-vie-en-rose|title=Korean-Japanese Girl Group IZ*ONE Releases First Single 'La Vie en Rose'|work=Billboard|date=ngày 29 tháng 10 năm 2018|access-date =ngày 4 tháng 11 năm 2018|first1=Tamar|last1=Herman}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://www.koreatimes.co.kr/www/art/2018/11/682_257859.html|title='Produce 48' project group IZ*ONE makes debut|work=The Korea Times|date=ngày 30 tháng 10 năm 2018|access-date =ngày 4 tháng 11 năm 2018|last1=Kwak|first1=Yeon-soo}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.koreaherald.com/view.php?ud=20181029000858|title=Fresh out of idol competition show, girl band Iz One debuts with 'Color*Iz'|work=The Korea Herald|date=ngày 29 tháng 10 năm 2018|access-date =ngày 4 tháng 11 năm 2018}}</ref> được thành lập vào ngày 31 tháng 8 năm 2018 bởi công ty [[CJ E&M]] thông qua chương trình [[truyền hình thực tế]] [[chương trình tìm kiếm tài năng|sống còn]] ''[[Produce 48]]'' của kênh [[Mnet (kênh truyền hình)|Mnet]] và được đồng quản lý bởi hai công ty Off The Record Entertainment và [[Swing Entertainment]].<ref>{{chú thích web|title=아이즈원·프로미스나인, 오프더레코드서 한솥밥(공식)|url=https://entertain.naver.com/read?oid=108&aid=0002729480|work=NAVER|date=ngày 21 tháng 9 năm 2018|access-date =ngày 21 tháng 9 năm 2018|language=ko}}</ref><ref>{{chú thích web|title=[단독] 아이즈원, 플레디스 떠나 CJ+'워너원 소속사' 스윙+오프더 손잡는다|url=http://sports.chosun.com/news/ntype.htm?id=202003110100075930004663&servicedate=20200310|work=Sports Chosun|date=10 tháng 3 năm 2020|access-date =12 tháng 4 năm 2020|language=ko}}</ref> Nhóm gồm 12 thành viên được khán giả Hàn Quốc bình chọn từ 96 thực tập sinh đến từ nhiều [[công ty giải trí]] khác nhau của [[Hàn Quốc]] và [[AKB48 Group]] của [[Nhật Bản]], đội hình chính thức bao gồm [[Kwon Eun-bi]], [[Miyawaki Sakura]], [[Kang Hye-won]], [[Choi Ye-na]], [[Lee Chae-yeon]], [[Kim Chae-won (sinh 2000)|Kim Chae-won]], [[Kim Min-ju]], [[Yabuki Nako]], [[Honda Hitomi]], [[Jo Yu-ri]], [[An Yu-jin]] và [[Jang Won-young]].<ref>{{chú thích web|last=Yim|first=Hyun-su|url=http://kpopherald.koreaherald.com/view.php?ud=201809021454014894073_2|title=Meet the 12 members of IZ*ONE as 'Produce 48' wraps up|website=Kpop Herald|publisher=Herald Corporation|date=ngày 2 tháng 9 năm 2018|access-date =ngày 2 tháng 9 năm 2018}}</ref> IZ*ONE chính thức ra mắt vào ngày 29 tháng 10 năm 2018 với [[EP|mini-album]] đầu tay ''[[ |
'''IZ*ONE''' ({{IPAc-en|ˈ|aɪ|z|_|w|ʌ|n}} {{respell|EYEZ|wun}}, {{lang-ko|아이즈원}}, {{lang-ja|アイズワン}}) là một [[nhóm nhạc nữ]] [[thần tượng K-pop|thần tượng Hàn Quốc]]–[[thần tượng Nhật Bản|Nhật Bản]]<ref name=":0">{{chú thích web|url=https://www.billboard.com/articles/columns/k-town/8482221/korean-japanese-girl-group-izone-la-vie-en-rose|title=Korean-Japanese Girl Group IZ*ONE Releases First Single 'La Vie en Rose'|work=Billboard|date=ngày 29 tháng 10 năm 2018|access-date =ngày 4 tháng 11 năm 2018|first1=Tamar|last1=Herman}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://www.koreatimes.co.kr/www/art/2018/11/682_257859.html|title='Produce 48' project group IZ*ONE makes debut|work=The Korea Times|date=ngày 30 tháng 10 năm 2018|access-date =ngày 4 tháng 11 năm 2018|last1=Kwak|first1=Yeon-soo}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.koreaherald.com/view.php?ud=20181029000858|title=Fresh out of idol competition show, girl band Iz One debuts with 'Color*Iz'|work=The Korea Herald|date=ngày 29 tháng 10 năm 2018|access-date =ngày 4 tháng 11 năm 2018}}</ref> được thành lập vào ngày 31 tháng 8 năm 2018 bởi công ty [[CJ E&M]] thông qua chương trình [[truyền hình thực tế]] [[chương trình tìm kiếm tài năng|sống còn]] ''[[Produce 48]]'' của kênh [[Mnet (kênh truyền hình)|Mnet]] và được đồng quản lý bởi hai công ty Off The Record Entertainment và [[Swing Entertainment]].<ref>{{chú thích web|title=아이즈원·프로미스나인, 오프더레코드서 한솥밥(공식)|url=https://entertain.naver.com/read?oid=108&aid=0002729480|work=NAVER|date=ngày 21 tháng 9 năm 2018|access-date =ngày 21 tháng 9 năm 2018|language=ko}}</ref><ref>{{chú thích web|title=[단독] 아이즈원, 플레디스 떠나 CJ+'워너원 소속사' 스윙+오프더 손잡는다|url=http://sports.chosun.com/news/ntype.htm?id=202003110100075930004663&servicedate=20200310|work=Sports Chosun|date=10 tháng 3 năm 2020|access-date =12 tháng 4 năm 2020|language=ko}}</ref> Nhóm gồm 12 thành viên được khán giả Hàn Quốc bình chọn từ 96 thực tập sinh đến từ nhiều [[công ty giải trí]] khác nhau của [[Hàn Quốc]] và [[AKB48 Group]] của [[Nhật Bản]], đội hình chính thức bao gồm [[Kwon Eun-bi]], [[Miyawaki Sakura]], [[Kang Hye-won]], [[Choi Ye-na]], [[Lee Chae-yeon]], [[Kim Chae-won (sinh 2000)|Kim Chae-won]], [[Kim Min-ju]], [[Yabuki Nako]], [[Honda Hitomi]], [[Jo Yu-ri]], [[An Yu-jin]] và [[Jang Won-young]].<ref>{{chú thích web|last=Yim|first=Hyun-su|url=http://kpopherald.koreaherald.com/view.php?ud=201809021454014894073_2|title=Meet the 12 members of IZ*ONE as 'Produce 48' wraps up|website=Kpop Herald|publisher=Herald Corporation|date=ngày 2 tháng 9 năm 2018|access-date =ngày 2 tháng 9 năm 2018}}</ref> IZ*ONE chính thức ra mắt vào ngày 29 tháng 10 năm 2018 với [[EP|mini-album]] đầu tay ''[[COLOR*IZ]]''.<ref name="debut" /> Âm nhạc của nhóm là sự kết hợp giữa các thể loại nhạc [[EDM]] như [[electropop]], [[nhạc house|house]], [[moombahton]], [[future bass]], với [[synth-pop]], [[nhạc dance|dance]], [[acoustic]] và [[ballad]].<ref name=":0" /><ref name="Izone disc">{{chú thích web|url=http://iz-one.co.kr/en/discography/|title=IZ*ONE DISCOGRAPHY|access-date =ngày 11 tháng 9 năm 2020|language=en|archive-url=https://web.archive.org/web/20200910163158/http://iz-one.co.kr/en/discography/|archive-date=ngày 10 tháng 9 năm 2020|url-status=live}}</ref><ref name="BB-LveR">{{Chú thích web|url=https://www.billboard.com/articles/news/international/9323637/izone-bloomiz-world-albums-digital-song-sales-chart|tiêu đề=IZ*ONE Bloom Back on World Albums & World Digital Song Sales Charts With Third Album|ngày tháng=ngày 27 tháng 2 năm 2020|ngày truy cập=ngày 11 tháng 9 năm 2020|language=en}}</ref><ref name="BB-SSotS">{{Chú thích web|url=https://billboardvn.vn/man-nhan-voi-the-gioi-co-tich-trong-mv-secret-story-of-the-swan-cua-izone/|tiêu đề=Mãn nhãn với thế giới cổ tích trong MV "Secret Story of the Swan" của IZ*ONE|ngày tháng=ngày 16 tháng 6 năm 2020|ngày truy cập=ngày 15 tháng 9 năm 2020|language=vi|archive-date=2020-06-17|archive-url=https://web.archive.org/web/20200617025127/https://billboardvn.vn/man-nhan-voi-the-gioi-co-tich-trong-mv-secret-story-of-the-swan-cua-izone/|url-status=dead}}</ref> |
||
Chỉ vài tháng sau khi ra mắt, IZ*ONE đã đạt được những thành công về mặt thương mại, như bán 225.000 đơn vị album và đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên [[Gaon Album Chart]].<ref name="billboard.com">{{chú thích web|url=https://www.billboard.com/articles/columns/k-town/8484032/izone-debut-la-vie-en-rose-coloriz-world-album-songs-charts|title=IZ*ONE Debut in Top 10 of World Albums & World Digital Song Sales Charts|work=Billboard|date=ngày 8 tháng 11 năm 2018|access-date =ngày 30 tháng 3 năm 2019|first1=Jeff|last1=Benjamin}}</ref> Cùng với đó cả album ''Color*Iz'' lẫn đĩa đơn chủ đề "[[La Vie en Rose (bài hát của Iz*One)|La Vie en Rose]]" đều lần lượt xuất hiện trên bảng xếp hạng ''Billboard'' World Albums và World Digital Songs.<ref name="billboard.com"/> Những thành tích ngay từ khi mới ra mắt đã đem về cho nhóm giải thưởng Nghệ sỹ Mới của Năm tại một số lễ trao giải như [[Golden Disc Awards]] và [[Seoul Music Awards]]. |
Chỉ vài tháng sau khi ra mắt, IZ*ONE đã đạt được những thành công về mặt thương mại, như bán 225.000 đơn vị album và đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên [[Gaon Album Chart]].<ref name="billboard.com">{{chú thích web|url=https://www.billboard.com/articles/columns/k-town/8484032/izone-debut-la-vie-en-rose-coloriz-world-album-songs-charts|title=IZ*ONE Debut in Top 10 of World Albums & World Digital Song Sales Charts|work=Billboard|date=ngày 8 tháng 11 năm 2018|access-date =ngày 30 tháng 3 năm 2019|first1=Jeff|last1=Benjamin}}</ref> Cùng với đó cả album ''Color*Iz'' lẫn đĩa đơn chủ đề "[[La Vie en Rose (bài hát của Iz*One)|La Vie en Rose]]" đều lần lượt xuất hiện trên bảng xếp hạng ''Billboard'' World Albums và World Digital Songs.<ref name="billboard.com"/> Những thành tích ngay từ khi mới ra mắt đã đem về cho nhóm giải thưởng Nghệ sỹ Mới của Năm tại một số lễ trao giải như [[Golden Disc Awards]] và [[Seoul Music Awards]]. |
||
Dòng 52: | Dòng 52: | ||
[[Đĩa đơn]] tiếng Nhật đầu tiên của nhóm, "[[Suki to Iwasetai]]", được phát hành vào ngày 6 tháng 2 năm 2019 bởi hãng đĩa [[EMI Records Japan|EMI Records]] của [[Universal Music Group|UMG]]. Đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên [[Oricon Singles Chart]] và với hơn 250.000 bản được bán ra, đĩa đơn đã nhận được chứng nhận Bạch Kim của [[Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản]] (RIAJ).<ref name="Oricon News">{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/news/2131124/full/|title=ハイスタ、欅坂46が3プラチナ キスマイ、IZ*ONE、STU48、NMB48がプラチナ 2月度レコ協認定|work=Oricon News|date=ngày 8 tháng 3 năm 2019|access-date =20 tháng 7 năm 2019|language=ja|archive-url=https://web.archive.org/web/20190510162850/https://www.oricon.co.jp/news/2131124/full/|archive-date=10 tháng 8 năm 2019|url-status=live}}</ref>. |
[[Đĩa đơn]] tiếng Nhật đầu tiên của nhóm, "[[Suki to Iwasetai]]", được phát hành vào ngày 6 tháng 2 năm 2019 bởi hãng đĩa [[EMI Records Japan|EMI Records]] của [[Universal Music Group|UMG]]. Đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên [[Oricon Singles Chart]] và với hơn 250.000 bản được bán ra, đĩa đơn đã nhận được chứng nhận Bạch Kim của [[Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản]] (RIAJ).<ref name="Oricon News">{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/news/2131124/full/|title=ハイスタ、欅坂46が3プラチナ キスマイ、IZ*ONE、STU48、NMB48がプラチナ 2月度レコ協認定|work=Oricon News|date=ngày 8 tháng 3 năm 2019|access-date =20 tháng 7 năm 2019|language=ja|archive-url=https://web.archive.org/web/20190510162850/https://www.oricon.co.jp/news/2131124/full/|archive-date=10 tháng 8 năm 2019|url-status=live}}</ref>. |
||
Là một nhóm nhạc dự án, IZ*ONE dự kiến hoạt động từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 4 năm 2021.<ref>{{chú thích web|url=http://withinnews.co.kr/news/view.html?section=1&category=157&item=&no=16257|title=대중 사로잡지 못한 |
Là một nhóm nhạc dự án, IZ*ONE dự kiến hoạt động từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 4 năm 2021.<ref>{{chú thích web|url=http://withinnews.co.kr/news/view.html?section=1&category=157&item=&no=16257|title=대중 사로잡지 못한 '프로듀스48', 아이즈원은 꽃길을 걸을 수 있을까?|work=Within News|date=ngày 4 tháng 9 năm 2018|access-date =ngày 11 tháng 3 năm 2021}}</ref> Tháng 1 năm 2021, có nguồn tin cho rằng [[CJ ENM]] đang thảo luận với công ty quản lý của các thành viên về khả năng kéo dài thời gian hoạt động của nhóm.<ref>{{chú thích web|url=http://isplus.live.joins.com/news/article/article.asp?total_id=23968362|title=[단독] 아이즈원, 연장 논의 박차...계약 과정에서 잡음 흘러나와|work=Ilgan Sports|date=ngày 12 tháng 1 năm 2021|access-date =ngày 11 tháng 3 năm 2021}}</ref> Tuy nhiên vào giữa tháng 3, Mnet xác nhận rằng IZ*ONE sẽ chính thức tan rã vào tháng 4 năm 2021 khi hết hạn hợp đồng, các thành viên sẽ trở về công ty quản lý gốc của mình. Thêm đó, sau khi tan rã đa số các cựu thành viên IZ*ONE đều ra mắt với các vị trí khác nhau tại các công ty chủ quản mới<ref name="disband_SportsDA">{{chú thích web|url=https://sports.donga.com/article/all/20210310/105818957/1|title=[전문] 아이즈원 4월 해체 "예정대로 마무리"|work=Sports Donga|date=ngày 10 tháng 3 năm 2021|access-date =ngày 12 tháng 3 năm 2021|language=ko}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://www.edaily.co.kr/news/read?newsId=01341526628982008&mediaCodeNo=258|title=아이즈원, 결국 해체 [공식]|work=eDaily|date=ngày 10 tháng 3 năm 2021|access-date =ngày 11 tháng 3 năm 2021|language=ko}}</ref> |
||
== Ý nghĩa tên gọi == |
== Ý nghĩa tên gọi == |
||
Dòng 60: | Dòng 60: | ||
== Lịch sử == |
== Lịch sử == |
||
=== Trước khi được thành lập === |
=== Trước khi được thành lập === |
||
Trước khi tham gia Produce 48, một số thành viên đã có hoạt động nghệ thuật và thành tích nhất định. [[Miyawaki Sakura]] từng tham gia vào vở nhạc kịch ''Vua sư tử'' (2008–2009) của Shiki Theatre Company;<ref>{{chú thích web |url=https://news.nifty.com/article/entame/showbizd/12257-084196/ |script-title=ja:HKT48宮脇咲良の"魂が震える"名言集!常に最前線で戦ってきたパイオニアの覚悟とは!? |trans-title=HKT48 Sakura Miyawaki's "soul trembling" words of wisdom! What is the resolution of this pioneer who has always fought on the forefront!? |date=ngày 7 tháng 9 năm 2018 |access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2018 |work=Nifty News |publisher=[[Nifty Corporation]] |language=ja|archive-url=https://web.archive.org/web/20180924185847/https://news.nifty.com/article/entame/showbizd/12257-084196/|archive-date=ngày 24 tháng 9 năm 2018}}</ref><ref>{{chú thích web |url=http://nuts-pro.com:80/new.html |title=WHAT'S NEW -NUTS PRODUCTION- |access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2018 |publisher=Nuts Production |language=ja | |
Trước khi tham gia Produce 48, một số thành viên đã có hoạt động nghệ thuật và thành tích nhất định. [[Miyawaki Sakura]] từng tham gia vào vở nhạc kịch ''Vua sư tử'' (2008–2009) của Shiki Theatre Company;<ref>{{chú thích web |url=https://news.nifty.com/article/entame/showbizd/12257-084196/ |script-title=ja:HKT48宮脇咲良の"魂が震える"名言集!常に最前線で戦ってきたパイオニアの覚悟とは!? |trans-title=HKT48 Sakura Miyawaki's "soul trembling" words of wisdom! What is the resolution of this pioneer who has always fought on the forefront!? |date=ngày 7 tháng 9 năm 2018 |access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2018 |work=Nifty News |publisher=[[Nifty Corporation]] |language=ja|archive-url=https://web.archive.org/web/20180924185847/https://news.nifty.com/article/entame/showbizd/12257-084196/|archive-date=ngày 24 tháng 9 năm 2018}}</ref><ref>{{chú thích web |url=http://nuts-pro.com:80/new.html |title=WHAT'S NEW -NUTS PRODUCTION- |access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2018 |publisher=Nuts Production |language=ja |archive-url=https://web.archive.org/web/20080927093428/http://www.nuts-pro.com/new.html |archive-date = ngày 27 tháng 9 năm 2008 }}</ref> [[Yabuki Nako]] từng xuất hiện trong phiên bản [[live-action]] của ''[[Touch (manga)|Touch]]'' (2005), tham gia một số bộ phim [[Phim truyền hình Nhật Bản|truyền hình]] và quảng cáo khác;<ref name="nikkansports20150721">{{chú thích web |url=https://www.nikkansports.com/entertainment/akb48/news/1510553.html |script-title=ja:HKT矢吹奈子、映画「タッチ」南役にメンバー驚き |trans-title=HKT's Nako Yabuki played Minami in the film "Touch", surprises members |date=ngày 21 tháng 7 năm 2015 |access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2018 |work=nikkansports.com |publisher=[[Nikkan Sports]] |language=ja }}</ref><ref>{{chú thích web |url=https://www.oricon.co.jp/prof/607228/ |script-title=ja:矢吹奈子のCM出演情報 |trans-title=Nako Yabuki's CM appearance information |access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2018 |work=Oricon Style |publisher=[[Oricon]] |language=ja |archive-url=https://web.archive.org/web/20150110140351/https://www.oricon.co.jp/prof/607228/ |archive-date=ngày 10 tháng 1 năm 2015 }}</ref> trước khi cả hai gia nhập [[HKT48]] lần lượt vào năm 2011 và 2013.<ref>{{chú thích web|url=https://natalie.mu/music/news/60271|script-title=ja:HKT48、地元博多で「手をつなぎながら」公演スタート |trans-title=HKT48 begin start performing at their local Hakata theatre with "Te o Tsunagi nagara" stage |website=[[Natalie (website)|Natalie]]|publisher=Natasha, Inc.|language=ja|access-date =ngày 17 tháng 9 năm 2018}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://natalie.mu/music/news/102789|script-title=ja:HKT48ひまわり組の初日公演で3期生サプライズお披露目 |trans-title=Third generation members make a surprise announcement at the HKT48 Sunflower Team opening day performance |website=[[Natalie (website)|Natalie]]|publisher=Natasha, Inc.|language=ja|access-date =ngày 17 tháng 9 năm 2018}}</ref> [[Honda Hitomi]] ra mắt vào năm 2014 với tư cách là thành viên của [[AKB48]].<ref>{{chú thích web|url=http://www.entamenext.com/news/detail/id=544|script-title=ja:チーム8の始動メンバーは九州と関東の混成チーム!|trans-title=Team 8's first members are a mixed team from Kyushu and Kanto|website=エンタメNEXT|language=ja|access-date = ngày 17 tháng 9 năm 2018}}</ref> [[Kwon Eun-bi]] ra mắt cùng nhóm nhạc Ye-A dưới nghệ danh Ka.Zoo vào năm 2014 nhưng nhóm tan rã vào năm 2015.<ref>{{chú thích web|url=http://news.mtn.co.kr/newscenter/news_viewer.mtn?gidx=2018071617185511737|title=권은비, 걸그룹 '예아'로 활동 당시 모습 보니 '핑크색 머리 눈길'|work=MTN|date=ngày 16 tháng 7 năm 2018|access-date =ngày 1 tháng 9 năm 2018|language=ko}}</ref> [[Lee Chae-yeon]] từng là thí sinh của ''[[K-pop Star (chương trình truyền hình)|K-pop Star]]'' 3 (2013-2014) và ''[[Sixteen (chương trình truyền hình)|Sixteen]]'' (2015) nhưng đều bị loại.<ref>{{chú thích web|url=http://www.newsen.com/news_view.php?uid=201809010020344110|title=K팝3→식스틴→프듀48, 아이즈원 12등 이채연의 감동 스토리[스타와치]|work=Newsen|date=ngày 1 tháng 9 năm 2018|access-date =ngày 1 tháng 9 năm 2018|language=ko}}</ref> Sau đó cô rời [[JYP Entertainment]] và chuyển đến [[WM Entertainment]]. [[Jo Yu-ri]] từng tham gia chương trình ''[[Idol School (chương trình truyền hình)|Idol School]]'' vào năm 2017 nhưng xếp thứ 15 trong đêm chung kết và bị loại.<ref>{{chú thích web|url=http://star.mbn.co.kr/view.php?year=2018&no=550567&refer=portal|title=[아이즈원 매력 탐구①] 1위 장원영부터 6위 야부키 나코까지..."국프 사랑 내꺼야"|work=MBN|date=ngày 1 tháng 9 năm 2018|access-date =ngày 1 tháng 9 năm 2018|language=ko}}</ref> [[Kim Min-ju]] từng góp mặt trong một vài video âm nhạc và bộ phim [[phim truyền hình Hàn Quốc|truyền hình]], nổi bật là ''[[Trò chơi tình yêu (phim truyền hình Hàn Quốc 2018)|Trò chơi tình yêu]]'' (2018) của đài [[MBC]], cô đóng vai Choi Soo-ji ([[Moon Ga-young]] thủ vai) lúc trẻ.<ref>{{chú thích web|url=http://stoo.asiae.co.kr/news/naver_view.htm?idxno=2018061523480182612|title=[TV캡처] '프로듀스 48' 김민주 "아이콘 MV·'위대한 유혹자' 출연"|work=Stoo Asiae|date=ngày 15 tháng 6 năm 2018|access-date=ngày 3 tháng 9 năm 2018|language=ko|archive-date=2018-09-03|archive-url=https://web.archive.org/web/20180903082359/http://stoo.asiae.co.kr/news/naver_view.htm?idxno=2018061523480182612|url-status=dead}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://tenasia.hankyung.com/archives/1443983|title=김민주, '위대한 유혹자'서 첫 드라마 데뷔...문가영 아역|work=tenasia|date=ngày 13 tháng 3 năm 2018|access-date=ngày 1 tháng 10 năm 2018|language=ko|archive-date=2018-10-01|archive-url=https://web.archive.org/web/20181001031342/http://tenasia.hankyung.com/archives/1443983|url-status=dead}}</ref> [[An Yu-jin]] từng được đào tạo tại [[Jellyfish Entertainment]] trong 5 tháng, trước khi gia nhập [[Starship Entertainment]]. Cô cũng tham gia đóng nhiều [[Phim quảng cáo|quảng cáo]] và [[video âm nhạc]], nổi bật là quảng cáo kính áp tròng Acuvue Vita.<ref name="insight.co.kr">{{chú thích web |url=https://www.insight.co.kr/news/117856 |title=청순한 '여대생' 같은 아큐브 광고 모델의 놀라운 정체 |date=ngày 29 tháng 8 năm 2017 |access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2018 |work=Insight |language=ko |last=Lee |first=Byul}}</ref><ref name="ReferenceA">{{chú thích web |url=https://www.insight.co.kr/news/149687 |title='프로듀스48' 출연하는 '올해 16살' 아큐브 모델 안유진 |date=ngày 11 tháng 4 năm 2018 |access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2018 |work=Insight |language=ko |last=Kim |first=So-yeon }}</ref> [[Kang Hye-won]] từng thực tập tại HYWY Entertainment và nằm trong dự án ra mắt nhóm nhạc nữ DAYDAY nhưng sau đó bị loại và kế hoạch ra mắt nhóm cũng bị hủy.<ref>{{chú thích web|url=https://www.kpopmap.com/the-groups-izone-kang-hyewon-almost-debuted-in-before-produce-48/|title=The Groups IZ*ONE Kang HyeWon Almost Debuted In Before Produce 48|work=Kpopmap|date=ngày 4 tháng 9 năm 2018|access-date=ngày 2 tháng 10 năm 2018|language=en|archive-date=2018-10-02|archive-url=https://web.archive.org/web/20181002215212/https://www.kpopmap.com/the-groups-izone-kang-hyewon-almost-debuted-in-before-produce-48/|url-status=dead}}</ref> Cô gia nhập 8D Creative sau khi rời HYWY Entertainment. [[Choi Ye-na]] từng là thực tập sinh của [[Polaris Entertainment]], được đào tạo cùng với thành viên [[Jeon Hee-jin|Heejin]] và [[Kim Hyun-jin|Hyunjin]] của nhóm nhạc nữ [[Loona (nhóm nhạc)|Loona]]. |
||
=== 2018: Thành lập và ra mắt chính thức với '' |
=== 2018: Thành lập và ra mắt chính thức với ''COLOR*IZ'' === |
||
IZ*ONE được thành lập thông qua chương trình truyền hình thực tế sống còn ''[[Produce 48]]'' được phát sóng trên kênh Mnet từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 31 tháng 8 năm 2018. Chương trình là sự hợp tác giữa loạt chương trình [[Produce 101]] Hàn Quốc và [[AKB48 Group|nhóm nhạc chị em của AKB48]] đến từ Nhật Bản. Từ 96 thí sinh tham gia chương trình, chỉ mười hai thí sinh có thứ hạng cao nhất trong đêm chung kết trực tiếp được lựa chọn và thành lập nên IZ*ONE.<ref>{{chú thích web|url=http://star.hankookilbo.com/News/Read/8a3ea2d5ed1f48d3bed570035813f3ca|title= |
IZ*ONE được thành lập thông qua chương trình truyền hình thực tế sống còn ''[[Produce 48]]'' được phát sóng trên kênh Mnet từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 31 tháng 8 năm 2018. Chương trình là sự hợp tác giữa loạt chương trình [[Produce 101]] Hàn Quốc và [[AKB48 Group|nhóm nhạc chị em của AKB48]] đến từ Nhật Bản. Từ 96 thí sinh tham gia chương trình, chỉ mười hai thí sinh có thứ hạng cao nhất trong đêm chung kết trực tiếp được lựa chọn và thành lập nên IZ*ONE.<ref>{{chú thích web|url=http://star.hankookilbo.com/News/Read/8a3ea2d5ed1f48d3bed570035813f3ca|title='프로듀스48' PD "투표는 한국에서만...최종 12인 국적 구분 NO"|work=Hankook Ilbo|date=ngày 11 tháng 6 năm 2018|access-date =ngày 1 tháng 9 năm 2018|language=ko|archive-date = ngày 12 tháng 6 năm 2018 |archive-url=https://web.archive.org/web/20180612143744/http://star.hankookilbo.com/News/Read/8a3ea2d5ed1f48d3bed570035813f3ca}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=108&aid=0002724417|title=[★밤TView]'프듀48' 장원영, 1등으로 아이즈원 데뷔..12등 이채연|work=Star News|date=ngày 31 tháng 8 năm 2018|access-date =ngày 1 tháng 9 năm 2018|language=ko}}</ref> |
||
[[Tập tin:181128 아이즈원(IZ*ONE) '2018 Asia Artist Awards(AAA)' 시상식 레드카펫.jpg|300px|thumb|IZ*ONE tại lễ trao giải [[Asia Artist Awards]] 2018]] |
[[Tập tin:181128 아이즈원(IZ*ONE) '2018 Asia Artist Awards(AAA)' 시상식 레드카펫.jpg|300px|thumb|IZ*ONE tại lễ trao giải [[Asia Artist Awards]] 2018]] |
||
IZ*ONE chính thức ra mắt vào ngày 29 tháng 10 năm 2018 với mini-album đầu tay ''[[ |
IZ*ONE chính thức ra mắt vào ngày 29 tháng 10 năm 2018 với mini-album đầu tay ''[[COLOR*IZ]]'' cùng bài hát chủ đề "[[La Vie en Rose (bài hát của Iz*One)|La Vie en Rose]]" ({{ko-hhrm|라비앙로즈||Ra Bi Ang Rojeu}}).<ref name="debut">{{Chú thích web|title=[단독] "국민 픽" 아이즈원, 10월 29일 데뷔 확정...본격 韓日 걸그룹|url=https://m.entertain.naver.com/read?oid=421&aid=0003570820|ngày tháng=ngày 4 tháng 9 năm 2018|ngày truy cập=ngày 4 tháng 9 năm 2018|language=ko}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=468&aid=0000422783|title=[단독]프듀48 '아이즈원', 첫 일정 'AKB48 프로듀서와 상견례'...4일 일본行|work=Sports Seoul|date=ngày 2 tháng 9 năm 2018|access-date =ngày 3 tháng 9 năm 2018|language=ko}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.topstarnews.net/news/articleView.html?idxno=500266|title=아이즈원, 첫 미니 앨범 '컬러아이즈' 오피셜 포토 공개...'채연-민주-채원-히토미'|work=Top Star News|date=ngày 14 tháng 10 năm 2018|access-date =ngày 14 tháng 10 năm 2018|language=ko}}</ref> Cùng ngày, nhóm tổ chức buổi show-con "COLOR*IZ Show-Con" tại [[Hội trường Olympic (Seoul)|Hội trường Olympic]], Seoul, Hàn Quốc, và bán hết vé chỉ trong vòng vài phút mở bán.<ref name="color*iz_showcon_1">{{chú thích web|url=http://star.mbn.co.kr/view.php?year=2018&no=643072|title=아이즈원 측 "29일 쇼콘으로 데뷔 확정"(공식입장)|website=MBN|last=Ahn|first=Yun-ji|access-date =ngày 29 tháng 10 năm 2018|date=ngày 16 tháng 10 năm 2018|language=ko}}</ref><ref name="color*iz_showcon_2">{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0003885850|title=아이즈원, 데뷔 쇼콘 1분만에 전석 매진..'동시접속자 15만 육박'[공식입장]|work=OSEN|access-date =ngày 29 tháng 10 năm 2018|date=ngày 19 tháng 10 năm 2018|language=ko}}</ref> IZ*ONE có cúp âm nhạc tuần đầu tiên trong sự nghiệp sau mười ngày chính thức ra mắt trên ''[[M Countdown]]'', và phá kỷ lục lúc bấy giờ trở thành nhóm nữ có chiến thắng tuần sớm nhất kể từ lúc ra mắt.<ref name="auto">{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0003900292|access-date =ngày 8 tháng 11 năm 2018|website=OSEN |date=ngày 8 tháng 11 năm 2018|title=아이즈원, '엠카' 1위로 데뷔 첫 트로피..트와이스·케이윌 컴백 [종합]|language=Ko}}</ref> ''COLOR*IZ'' bán được 34.000 bản trong ngày đầu phát hành, giúp IZ*ONE lập kỷ lục trở thành nhóm nữ có số album ra mắt bán ra trong ngày đầu cao nhất,<ref>{{chú thích báo|url=https://entertain.naver.com/now/read?oid=109&aid=0003892872|title="역시 아이즈원"...하루만에 역대 걸그룹 데뷔앨범 초동 신기록 달성|work=OSEN|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2018|date=ngày 30 tháng 10 năm 2018|language=ko}}</ref><ref>{{chú thích báo|url=https://entertain.naver.com/now/read?oid=018&aid=0004238234|title=아이즈원 데뷔곡 멜론 9위...주요 차트 상위권 안착|work=EDaily|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2018|date=ngày 30 tháng 10 năm 2018|language=ko}}</ref> trong khi đó video âm nhạc của bài hát chủ đề "La Vie en Rose" đạt được hơn 4.5 triệu lượt xem trong vòng một ngày kể từ khi phát hành trên [[YouTube]], trở thành video âm nhạc ra mắt có lượng xem trong 24 giờ đầu cao nhất.<ref>{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=081&aid=0002952811|title=아이즈원, 데뷔 그룹 신기록... '라비앙로즈' MV 24시간 455만뷰|work=Seoul Newspaper|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2018|date=ngày 30 tháng 10 năm 2018|language=ko}}</ref> Mini-album còn đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên [[Gaon Album Chart]] và bán tổng cộng hơn 225.000 bản.<ref>{{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=44&hitYear=2018&termGbn=week|title=''Color*Iz'' charting peak (see #2)|website=[[Gaon Music Chart|Gaon Chart]]|language=ko|access-date =ngày 15 tháng 11 năm 2018}}</ref><ref>Doanh số tích lũy của ''Color*Iz'':<!--192,738 (2018) + 17,673 (Feb 2019) + 14,990 (Kino)--> |
||
* {{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=11&hitYear=2018&termGbn=month|title=''Color*Iz'' (Kino) latest sales (see #48)|language=ko|work=Gaon|access-date =ngày 11 tháng 1 năm 2019}} |
* {{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=11&hitYear=2018&termGbn=month|title=''Color*Iz'' (Kino) latest sales (see #48)|language=ko|work=Gaon|access-date =ngày 11 tháng 1 năm 2019}} |
||
* {{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=2018&hitYear=2018&termGbn=year|title=''Color*Iz'' 2018 sales (see #24)|language=ko|work=Gaon|access-date =ngày 11 tháng 1 năm 2019}} |
* {{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=2018&hitYear=2018&termGbn=year|title=''Color*Iz'' 2018 sales (see #24)|language=ko|work=Gaon|access-date =ngày 11 tháng 1 năm 2019}} |
||
* {{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=02&hitYear=2019&termGbn=month|title=''Color*Iz'' 2019 latest sales (see #31)|language=ko|work=Gaon|access-date =ngày 7 tháng 3 năm 2019}} |
* {{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=02&hitYear=2019&termGbn=month|title=''Color*Iz'' 2019 latest sales (see #31)|language=ko|work=Gaon|access-date =ngày 7 tháng 3 năm 2019}} |
||
</ref> Hiệp hội Nội dung Âm nhạc Hàn Quốc (KMCA) trao chứng nhận Bạch Kim cho '' |
</ref> Hiệp hội Nội dung Âm nhạc Hàn Quốc (KMCA) trao chứng nhận Bạch Kim cho ''COLOR*IZ'' vào ngày 9 tháng 7 năm 2020, 20 tháng kể từ khi phát hành sau khi album bán được hơn 250.000 bản.<ref>{{chú thích web|title=Color*Iz Platinum Certification|url=http://www.gaonchart.co.kr/main/section/certification/list.gaon|url-status=live|access-date =ngày 7 tháng 9 năm 2020|website=Gaon Music Chart}}</ref> Với thành công thương mại kể từ ngày đầu ra mắt, IZ*ONE đã thắng hạng mục "Nghệ sĩ Mới của Năm" tại một số giải thưởng âm nhạc, bao gồm [[Mnet Asian Music Awards]], [[Golden Disc Awards]] và [[Seoul Music Awards]].<ref name="roty">{{chú thích web|url=http://enews.imbc.com/News/RetrieveNewsInfo/253036|title='최고의 루키' 아이즈원, 신인상 5관왕 쾌거..."모두 위즈원의 사랑 덕분"|work=iMBC|language=ko|date=ngày 1 tháng 1 năm 2019|access-date =ngày 13 tháng 7 năm 2019}}</ref> Màn ra mắt của IZ*ONE được ''[[Billboard]]'' cho là một trong những màn ra mắt đỉnh nhất của K-pop trong năm 2018.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.billboard.com/articles/columns/k-town/8491744/best-new-k-pop-acts-2018|title=10 Best New K-Pop Acts of 2018|work=Billboard|date=29 tháng 12 năm 2018|access-date =13 tháng 5 năm 2020|first1=Tamar|last1=Herman}}</ref> |
||
Ngày 6 tháng 12, công ty quản lý Off the Record thông báo nhóm đã ký hợp đồng thu âm với [[EMI Records Japan]], công ty con của [[Universal Music Group|Universal Music Japan]], nhằm chuẩn bị cho kế hoạch tấn công thị trường Nhật Bản của nhóm vào ngày 6 tháng 2 năm 2019.<ref name="fns18">{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/now/read?oid=469&aid=0000347658|title=아이즈원, 내년 2월 日 |
Ngày 6 tháng 12, công ty quản lý Off the Record thông báo nhóm đã ký hợp đồng thu âm với [[EMI Records Japan]], công ty con của [[Universal Music Group|Universal Music Japan]], nhằm chuẩn bị cho kế hoạch tấn công thị trường Nhật Bản của nhóm vào ngày 6 tháng 2 năm 2019.<ref name="fns18">{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/now/read?oid=469&aid=0000347658|title=아이즈원, 내년 2월 日 데뷔...글로벌 행보 시작|date=ngày 6 tháng 12 năm 2018|work=Hankook Ilbo|language=ko|access-date =ngày 8 tháng 1 năm 2019}}</ref> |
||
=== 2019: Ra mắt tại Nhật Bản, '' |
=== 2019: Ra mắt tại Nhật Bản, ''HEART*IZ'' và tạm ngừng hoạt động === |
||
Ngày 20 tháng 1, IZ*ONE tổ chức buổi showcase ra mắt tại Nhật Bản ở Tokyo Dome City Hall để quảng bá cho đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay {{nihongo|"[[Suki to Iwasetai]]"|好きと言わせたい||extra={{literal translation}} "Muốn anh nói rằng anh thích em"}}.<ref>{{chú thích web|url=https://headlines.yahoo.co.jp/hl?a=20190121-00000010-mnet-musi|title=IZ*ONE、日本デビューショーケースが大盛況!「世界の方に愛されるIZ*ONEでいたい」(M-ON!Press(エムオンプレス)) – |
Ngày 20 tháng 1, IZ*ONE tổ chức buổi showcase ra mắt tại Nhật Bản ở Tokyo Dome City Hall để quảng bá cho đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay {{nihongo|"[[Suki to Iwasetai]]"|好きと言わせたい||extra={{literal translation}} "Muốn anh nói rằng anh thích em"}}.<ref>{{chú thích web|url=https://headlines.yahoo.co.jp/hl?a=20190121-00000010-mnet-musi|title=IZ*ONE、日本デビューショーケースが大盛況!「世界の方に愛されるIZ*ONEでいたい」(M-ON!Press(エムオンプレス)) – ...|date=ngày 3 tháng 2 năm 2019|website=archive.is|access-date=ngày 3 tháng 2 năm 2019|archive-date=2019-02-03|archive-url=https://archive.today/20190203030353/https://headlines.yahoo.co.jp/hl?a=20190121-00000010-mnet-musi|url-status=bot: unknown}}</ref> Năm ngày sau sự kiện, ngày 25 tháng 1, nhóm phát hành video âm nhạc cho đĩa đơn, trong khi đó đĩa đơn được chính thức phát hành vào ngày 6 tháng 2.<ref>{{chú thích web|url=https://kworb.net/youtube/video/dLymsYC7Kmo.html|title=YouTube Stats of IZ*ONE (아이즈원) – '好きと言わせたい (Suki to Iwasetai)' MV|website=kworb.net|access-date = ngày 3 tháng 2 năm 2019}}</ref> Nó đạt thứ hạng cao nhất là thứ 2 trên cả Oricon Singles Chart lẫn ''Billboard Japan'' Hot 100 và bán được hơn 200.000 bản trong tuần đầu tiên.<ref>{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/news/2139085/full/|title=IZ*ONEが合算シングルでも1位【オリコンランキング】|work=Oricon News|language=ja|date=ngày 3 tháng 7 năm 2019|access-date =ngày 18 tháng 5 năm 2020}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.billboard-japan.com/d_news/detail/72587/2|title=【ビルボード】Kis-My-Ft2「君を大好きだ」が3冠で総合首位獲得 総合2位のIZ*ONE「好きと言わせたい」とわずか約250ポイント差|work=Billboard Japan|language=ja|date=ngày 13 tháng 2 năm 2019|access-date =ngày 18 tháng 5 năm 2020}}</ref> Ngày 8 tháng 3, [[Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản]] (RIAJ) trao chứng nhận Bạch Kim cho đĩa đơn với hơn 250.000 đơn vị được bán ra, đây cũng là chứng nhận Bạch kim đầu tiên trong sự nghiệp của nhóm.<ref name="Oricon News"/> |
||
IZ*ONE chính thức trở lại sân khấu Hàn Quốc vào ngày 1 tháng 4 với mini-album thứ hai ''[[ |
IZ*ONE chính thức trở lại sân khấu Hàn Quốc vào ngày 1 tháng 4 với mini-album thứ hai ''[[HEART*IZ]]'' cùng bài hát chủ đề "[[Violeta (bài hát của Iz*One)|Violeta]]" ({{ko-hhrm|비올레타||Biolleta}}).<ref>{{chú thích web|url=https://www.ytn.co.kr/_sn/0117_201904011720038498|title="글로벌 꽃길은 계속" 아이즈원, 韓日서 예고한 2번째 신드롬(종합)|work=YTN|date=ngày 1 tháng 4 năm 2019|access-date =ngày 2 tháng 4 năm 2019|language=ko}}</ref> Số lượng đặt trước album nội địa vượt 200.000 bản.<ref>{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/now/read?oid=109&aid=0003978951|title=아이즈원, 미니 2집 선주문 판매량 20만 돌파..대세 그룹 입증 [공식입장]|work=OSEN|date=ngày 29 tháng 3 năm 2019|access-date =ngày 2 tháng 4 năm 2019|language=ko|first=Jin-young|last=Park|via=Naver}}</ref> Sau khi được phát hành, ''HEART*IZ'' đứng đầu hai bảng xếp hạng Gaon Album và Oricon Overseas Album Charts, bán hơn 130.000 bản trong tuần đầu tiên, một kỷ lúc mới của nhóm nhạc K-pop nữ thời điểm đó.<ref>{{chú thích web|url=http://www.sportsseoul.com/news/read/747392|title=아이즈원, 역대 걸그룹 앨범 초동 신기록...13만장 돌파|work=Sports Seoul|date=ngày 8 tháng 4 năm 2019|access-date =ngày 13 tháng 5 năm 2020|language=ko|first=Sun-woo|last=Kim}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://digitalchosun.dizzo.com/site/data/html_dir/2019/04/11/2019041180021.html|title=아이즈원(IZ*ONE), '하트아이즈(HEART*IZ)'으로 日 오리콘 해외 앨범 차트 1위|work=Chosun Ilbo|date=ngày 11 tháng 4 năm 2019|access-date =ngày 24 tháng 7 năm 2019|language=ko|last=Kim|first=Kyung-hee}}</ref> KMCA trao chứng nhận Bạch Kim cho album vào ngày 10 tháng 10 sau khi bán được hơn 250.000 đơn vị.<ref>{{chú thích web|url=http://www.gaonchart.co.kr/main/section/certification/list.gaon|title=''Heart*Iz''<nowiki />'s Platinum certification|work=Gaon Music Chart|access-date =ngày 13 tháng 5 năm 2020}}</ref> ''HEART*IZ'' còn đạt thứ hạng cao nhất là thứ sáu trên bảng xếp hạng ''Billboard'' World Albums.<ref name="heartizbillboard">{{chú thích web|url=https://www.billboard.com/articles/columns/k-town/8507290/izone-violeta-heartiz-world-albums-chart-sales|title=IZ*ONE Hits New Peak on World Albums Chart With 'HEART*IZ'|work=Billboard|date=ngày 15 tháng 4 năm 2019|access-date =ngày 16 tháng 5 năm 2020|first1=Jeff|last1=Benjamin}}</ref> Trong khi đó, ca khúc chủ đề "Violeta" đạt thứ hạng cao nhất lần lượt là thứ mười tám và thứ năm trên Gaon Digital Chart và ''Billboard'' K-pop Hot 100.<ref>{{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/online.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=ALL&targetTime=14&hitYear=2019&termGbn=week|title="Violeta" on Gaon Digital Chart|website=Gaon Chart|language=ko|access-date =ngày 18 tháng 5 năm 2020}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://www.billboard.com/music/izone/chart-history/KPO|title="Violeta" on ''Billboard'' K-pop 100|website=Billboard|access-date =ngày 18 tháng 5 năm 2020}}</ref> Bài hát cũng đạt thứ hạng cao nhất là thứ tám trên ''Billboard'' World Digital Songs.<ref name="heartizbillboard" /> "Violeta" nhận được chiến thắng tuần đầu tiên trên [[SBS]] ''[[The Show (chương trình truyền hình Hàn Quốc)|The Show]]'' vào ngày 9 tháng 4.<ref>{{chú thích web|url=http://sports.chosun.com/news/ntype.htm?id=201904110100077960005141&servicedate=20190410|access-date =ngày 11 tháng 4 năm 2019|work=Sports Chosun|date=ngày 10 tháng 4 năm 2019|title='더쇼' 아이즈원, 컴백 9일 만에 '비올레타' 1위...깜찍 제비 분장 공약|language=Ko|first=An-ji|last=Jeong}}</ref> |
||
[[Tập tin:190123 아이즈원(IZONE), 지나가는 바람도 반하는 미모 (GaonchartKpopAward2019).png|300px|thumb|left|IZ*ONE tại thảm đỏ lễ trao giải [[Gaon Chart Music Awards]] 2019]] |
[[Tập tin:190123 아이즈원(IZONE), 지나가는 바람도 반하는 미모 (GaonchartKpopAward2019).png|300px|thumb|left|IZ*ONE tại thảm đỏ lễ trao giải [[Gaon Chart Music Awards]] 2019]] |
||
IZ*ONE chính thức thông báo về chuyến lưu diễn châu Á đầu tiên của mình mang tên ''Eyes On Me'' thông qua các trang mạng xã hội, với buổi hòa nhạc đầu tiên được tổ chức tại [[Jamsil Arena|Nhà thi đấu Jamsil]], [[Seoul]], [[Hàn Quốc]] trong hai ngày 8 và 9 tháng 6 năm 2019.<ref name="1stconcert1">{{chú thích báo|title=아이즈원, 6월 데뷔 첫 단독 콘서트 개최..5월 티켓 오픈 [공식입장]|url=https://m.entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0003997134|website=OSEN|date=ngày 25 tháng 4 năm 2019|access-date =ngày 25 tháng 4 năm 2019|language=ko}}</ref> Tuy nhiên cả hai đêm diễn này đều bán hết sạch vé nên công ty quản lý Off the Record phải bổ sung thêm một buổi diễn nữa vào ngày 7 tháng 6.<ref name=1stconcert2>{{chú thích báo|title=아이즈원, 데뷔 첫 콘서트 선예매 전석 매진..역대급 티켓 전쟁 [공식]|url=https://m.entertain.naver.com/now/read?oid=109&aid=0004004693|website=OSEN|date=ngày 8 tháng 5 năm 2019|access-date =ngày 9 tháng 5 năm 2019|language=ko}}</ref> Trong chuyến lưu diễn, nhóm biểu diễn hai bài hát mới chưa được phát hành trước đó, "Ayayaya" và "So Curious".<ref>{{chú thích web|title=[종합] "또 다른 기적" 아이즈원 첫 단독 콘서트, 눈물의 마무리|url=https://sports.donga.com/3/all/20190610/95914199/2|website=Sports DongA|date=ngày 10 tháng 6 năm 2019|access-date =ngày 16 tháng 5 năm 2020|language=ko|first=Sung-woon|last=Jo}}</ref> Nhìn chung, IZ*ONE biểu diễn tại tám thành phố nằm trong năm vùng lãnh thổ, và thu hút được tổng cộng 81.000 khán giả. |
IZ*ONE chính thức thông báo về chuyến lưu diễn châu Á đầu tiên của mình mang tên ''Eyes On Me'' thông qua các trang mạng xã hội, với buổi hòa nhạc đầu tiên được tổ chức tại [[Jamsil Arena|Nhà thi đấu Jamsil]], [[Seoul]], [[Hàn Quốc]] trong hai ngày 8 và 9 tháng 6 năm 2019.<ref name="1stconcert1">{{chú thích báo|title=아이즈원, 6월 데뷔 첫 단독 콘서트 개최..5월 티켓 오픈 [공식입장]|url=https://m.entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0003997134|website=OSEN|date=ngày 25 tháng 4 năm 2019|access-date =ngày 25 tháng 4 năm 2019|language=ko}}</ref> Tuy nhiên cả hai đêm diễn này đều bán hết sạch vé nên công ty quản lý Off the Record phải bổ sung thêm một buổi diễn nữa vào ngày 7 tháng 6.<ref name=1stconcert2>{{chú thích báo|title=아이즈원, 데뷔 첫 콘서트 선예매 전석 매진..역대급 티켓 전쟁 [공식]|url=https://m.entertain.naver.com/now/read?oid=109&aid=0004004693|website=OSEN|date=ngày 8 tháng 5 năm 2019|access-date =ngày 9 tháng 5 năm 2019|language=ko}}</ref> Trong chuyến lưu diễn, nhóm biểu diễn hai bài hát mới chưa được phát hành trước đó, "Ayayaya" và "So Curious".<ref>{{chú thích web|title=[종합] "또 다른 기적" 아이즈원 첫 단독 콘서트, 눈물의 마무리|url=https://sports.donga.com/3/all/20190610/95914199/2|website=Sports DongA|date=ngày 10 tháng 6 năm 2019|access-date =ngày 16 tháng 5 năm 2020|language=ko|first=Sung-woon|last=Jo}}</ref> Nhìn chung, IZ*ONE biểu diễn tại tám thành phố nằm trong năm vùng lãnh thổ, và thu hút được tổng cộng 81.000 khán giả. |
||
Nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ hai mang tên "[[Buenos Aires (đĩa đơn)|Buenos Aires]]" vào ngày 26 tháng 6.<ref>{{chú thích web|url=http://www.billboard-japan.com/d_news/detail/76629|title=IZ*ONE、シングル『Buenos Aires』MV公開|work=Billboard Japan|date=ngày 13 tháng 6 năm 2019|access-date =ngày 15 tháng 5 năm 2020|language=ja}}</ref> Đĩa đơn đứng đầu hai bảng xếp hạng nội địa Oricon Singles Chart và ''Billboard Japan'' Hot 100.<ref>{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/prof/735431/rank/single/|title="Bueno Aires" on Oricon Singles Chart|publisher=[[Oricon]]|access-date =ngày 13 tháng 2 năm 2019|language=ja}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.billboard-japan.com/charts/detail?a=hot100&year=2019&month=07&day=8|work=Billboard Japan|language=ja|title="Buenos Aires" on ''Billboard Japan'' Hot 100|access-date =ngày 3 tháng 7 năm 2019}}</ref> RIAJ trao chứng nhận Bạch Kim cho "Buenos Aires" vào tháng 7 năm 2019.<ref name="riajsingle"/> Ngày 25 tháng 9, IZ*ONE phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ ba của nhóm "[[Vampire (đĩa đơn của IZ*ONE)|Vampire]]".<ref>{{chú thích web|url=https://izone-official.com/news/60|title=IZ*ONE 日本3rdシングル「Vampire」WIZ*ONE盤CD発売記念 「個別ハイタッチ会」「個別メッセージカードお渡し会」「個別サイン会」開催のご案内 | News|website=IZ*ONE Japan Official Site|access-date =ngày 26 tháng 1 năm 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20190810071901/https://www.izone-official.com/news/60|archive-date=ngày 10 tháng 8 năm 2019}}</ref> Giống như đĩa đơn trước đó, "Vampire" đứng đầu hai bảng xếp hạng nội địa của Nhật và doanh số tuần đầu tiên đạt 200.000 bản,<ref>{{chú thích web|url=http://www.billboard-japan.com/charts/detail?a=hot100&year=2019&month=10&day=7|work=Billboard Japan|language=ja|title="Vampire" on ''Billboard Japan'' Hot 100|access-date =ngày 2 tháng 10 năm 2019}}</ref><ref name="oricon1sthalf">{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/news/2145530/full/|title=IZ*ONE、シングル2作連続1位 3作連続初週売上20万枚超え【オリコンランキング】|language=ja|date=ngày 1 tháng 10 năm 2019|work=Oricon News|access-date =ngày 15 tháng 5 năm 2020}}</ref> nhờ đó nhận được chứng nhận Vàng của RIAJ.<ref name="riajsingle">{{chú thích web|url=http://www.riaj.or.jp/f/data/cert/gd_search.html|title=ゴールドディスク認定 一般社団法人 日本レコード協会|publisher=[[Recording Industry Association of Japan]]|access-date =ngày 8 tháng 3 năm 2019|language=ja}} ''Note: To retrieve all album certifications, 1) type in IZ*ONE in the box "アーティスト", 2) click 検索''</ref> "Vampire" cũng là sản phẩm tiếng Nhật duy nhất của nhóm xuất hiện trong |
Nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ hai mang tên "[[Buenos Aires (đĩa đơn)|Buenos Aires]]" vào ngày 26 tháng 6.<ref>{{chú thích web|url=http://www.billboard-japan.com/d_news/detail/76629|title=IZ*ONE、シングル『Buenos Aires』MV公開|work=Billboard Japan|date=ngày 13 tháng 6 năm 2019|access-date =ngày 15 tháng 5 năm 2020|language=ja}}</ref> Đĩa đơn đứng đầu hai bảng xếp hạng nội địa Oricon Singles Chart và ''Billboard Japan'' Hot 100.<ref>{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/prof/735431/rank/single/|title="Bueno Aires" on Oricon Singles Chart|publisher=[[Oricon]]|access-date =ngày 13 tháng 2 năm 2019|language=ja}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.billboard-japan.com/charts/detail?a=hot100&year=2019&month=07&day=8|work=Billboard Japan|language=ja|title="Buenos Aires" on ''Billboard Japan'' Hot 100|access-date =ngày 3 tháng 7 năm 2019}}</ref> RIAJ trao chứng nhận Bạch Kim cho "Buenos Aires" vào tháng 7 năm 2019.<ref name="riajsingle"/> Ngày 25 tháng 9, IZ*ONE phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ ba của nhóm "[[Vampire (đĩa đơn của IZ*ONE)|Vampire]]".<ref>{{chú thích web|url=https://izone-official.com/news/60|title=IZ*ONE 日本3rdシングル「Vampire」WIZ*ONE盤CD発売記念 「個別ハイタッチ会」「個別メッセージカードお渡し会」「個別サイン会」開催のご案内 | News|website=IZ*ONE Japan Official Site|access-date =ngày 26 tháng 1 năm 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20190810071901/https://www.izone-official.com/news/60|archive-date=ngày 10 tháng 8 năm 2019}}</ref> Giống như đĩa đơn trước đó, "Vampire" đứng đầu hai bảng xếp hạng nội địa của Nhật và doanh số tuần đầu tiên đạt 200.000 bản,<ref>{{chú thích web|url=http://www.billboard-japan.com/charts/detail?a=hot100&year=2019&month=10&day=7|work=Billboard Japan|language=ja|title="Vampire" on ''Billboard Japan'' Hot 100|access-date =ngày 2 tháng 10 năm 2019}}</ref><ref name="oricon1sthalf">{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/news/2145530/full/|title=IZ*ONE、シングル2作連続1位 3作連続初週売上20万枚超え【オリコンランキング】|language=ja|date=ngày 1 tháng 10 năm 2019|work=Oricon News|access-date =ngày 15 tháng 5 năm 2020}}</ref> nhờ đó nhận được chứng nhận Vàng của RIAJ.<ref name="riajsingle">{{chú thích web|url=http://www.riaj.or.jp/f/data/cert/gd_search.html|title=ゴールドディスク認定 一般社団法人 日本レコード協会|publisher=[[Recording Industry Association of Japan]]|access-date =ngày 8 tháng 3 năm 2019|language=ja}} ''Note: To retrieve all album certifications, 1) type in IZ*ONE in the box "アーティスト", 2) click 検索''</ref> "Vampire" cũng là sản phẩm tiếng Nhật duy nhất của nhóm xuất hiện trong bảng xếp hạng ''Billboard'' K-pop Hot 100, đạt thứ hạng cao nhất là 52.<ref>{{chú thích web|url=https://www.billboard.com/charts/billboard-korea-k-pop-100/ngày 21 tháng 9 năm 2019|title="Vampire" on ''Billboard'' K-pop Hot 100|date=ngày 21 tháng 9 năm 2019|access-date=ngày 15 tháng 5 năm 2020|archive-date=2019-10-10|archive-url=https://web.archive.org/web/20191010022323/https://www.billboard.com/charts/billboard-korea-k-pop-100/ng%C3%A0y|url-status=live}}</ref> Tiếp nối thành công thương mại trước đó, nhóm trở thành nghệ sĩ mới bán đĩa chạy nhất của Oricon trong nửa đầu năm 2019,<ref>{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/news/2138295/full/|title=IZ*ONE、上半期新女王に手応え 宮脇咲良「まだまだ達成したいことがある」|work=Oricon News|date=ngày 22 tháng 6 năm 2019|access-date =ngày 15 tháng 5 năm 2020|language=ja}}</ref> với doanh thu hơn 510 triệu [[yên Nhật]] (xấp xỉ 110 tỷ [[Đồng (đơn vị tiền tệ)|đồng Việt Nam]] vào thời điểm đó) tổng cộng tại Nhật từ ngày 10 tháng 12 năm 2018 đến ngày 9 tháng 6 năm 2019.<ref>{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/news/2138045/full/|title=【オリコン上半期】IZ*ONE、新人部門総売上額1位|work=Oricon News|date=ngày 20 tháng 6 năm 2019|access-date =ngày 15 tháng 5 năm 2020|language=ja}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://news.kbs.co.kr/news/view.do?ncd=4231254&ref=A|title=[문화광장] 한일 합작 걸그룹 '아이즈원' 일본 오리콘차트 1위|work=KBS News|date=ngày 28 tháng 6 năm 2019|access-date =ngày 15 tháng 5 năm 2020|language=ko}}</ref> |
||
IZ*ONE dự kiến tiếp đó sẽ phát hành album phòng thu tiếng Hàn đầu tay của mình, ''Bloom*Iz'', vào ngày 11 tháng 11 năm 2019.<ref>{{chú thích báo|title=아이즈원, 11월 11일 첫 정규 앨범 '블룸아이즈'로 컴백...트레일러 영상 공개|url=https://n.news.naver.com/entertain/now/article/112/0003228959|website=Naver|date=ngày 30 tháng 10 năm 2019|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2019|language=ko}}</ref> Tuy nhiên album bị hoãn ngày phát hành do cuộc [[Điều tra gian lận phiếu bầu của Mnet|điều tra thao túng phiếu bầu của Mnet]], liên quan đến cả [[Fromis 9]] từ ''[[Idol School (chương trình truyền hình)|Idol School]]'' và [[X1 (nhóm nhạc)|X1]] từ ''[[Produce X 101]]''.<ref>{{chú thích web|title=Mnet 측 "아이즈원 컴백 연기 확정, 물의 일으켜 진심으로 사과"(공식입장)|url=https://entertain.naver.com/now/read?oid=609&aid=0000199599|website=Naver|access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019|language=ko|date=ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref name="koreaherald ngày 7 tháng 11 năm 2019">{{chú thích báo | url=http://www.koreaherald.com/view.php?ud=20191107000806 | title=Girl band IZ*ONE postpones release of new album amid vote-rigging scandal | work=[[The Korea Herald]] | date=ngày 7 tháng 11 năm 2019 | access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://ione.net/izone-huy-hop-bao-comeback-vi-be-boi-gian-lan-tai-produce-48-4008586.html|tựa đề=IZONE hủy họp báo comeback vì bê bối gian lận tại Produce 48}}</ref> Cuộc điều tra cho rằng 12 thành viên của nhóm đã được lựa chọn sẵn từ trước.<ref>{{chú thích web|url=https://news.naver.com/main/read.nhn?mode=LSD&mid=sec&oid=469&aid=0000446269&sid1=001|title=[단독] 아이즈원ㆍ엑스원 멤버 전원 시청자 투표 전 결정|last=Kang|first=Jin-goo|date = ngày 5 tháng 12 năm 2019 |website=news.naver.com|language=ko|access-date = ngày 24 tháng 1 năm 2020}}</ref> Do đó tất cả hoạt động của IZ*ONE, từ showcase đến quảng bá hay xuất hiện khách mời cũng đều hoãn vô thời hạn hoặc hủy bỏ,<ref name="koreaherald ngày 7 tháng 11 năm 2019"/><ref>{{chú thích báo | url=https://n.news.naver.com/entertain/article/108/0002822377 | title=tvN "'놀토' 9일 결방, 하이라이트 방송"..아이즈원 논란에 休(공식) | language=ko | work=Star News | date=ngày 7 tháng 11 năm 2019| access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref>{{chú thích báo | url=https://n.news.naver.com/entertain/now/article/076/0003493443 | title=[공식입장]MBC 측 "'마리텔2' 아이즈원, 안유진 포함 출연분 통편집 확정"(종합) | language=ko | work=Sports Chosun | date=ngày 7 tháng 11 năm 2019 | access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref>{{chú thích báo | url=https://entertain.naver.com/read?oid=117&aid=0003298029 | title=아이즈원, 컴백쇼도 결국 |
IZ*ONE dự kiến tiếp đó sẽ phát hành album phòng thu tiếng Hàn đầu tay của mình, ''Bloom*Iz'', vào ngày 11 tháng 11 năm 2019.<ref>{{chú thích báo|title=아이즈원, 11월 11일 첫 정규 앨범 '블룸아이즈'로 컴백...트레일러 영상 공개|url=https://n.news.naver.com/entertain/now/article/112/0003228959|website=Naver|date=ngày 30 tháng 10 năm 2019|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2019|language=ko}}</ref> Tuy nhiên album bị hoãn ngày phát hành do cuộc [[Điều tra gian lận phiếu bầu của Mnet|điều tra thao túng phiếu bầu của Mnet]], liên quan đến cả [[Fromis 9]] từ ''[[Idol School (chương trình truyền hình)|Idol School]]'' và [[X1 (nhóm nhạc)|X1]] từ ''[[Produce X 101]]''.<ref>{{chú thích web|title=Mnet 측 "아이즈원 컴백 연기 확정, 물의 일으켜 진심으로 사과"(공식입장)|url=https://entertain.naver.com/now/read?oid=609&aid=0000199599|website=Naver|access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019|language=ko|date=ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref name="koreaherald ngày 7 tháng 11 năm 2019">{{chú thích báo | url=http://www.koreaherald.com/view.php?ud=20191107000806 | title=Girl band IZ*ONE postpones release of new album amid vote-rigging scandal | work=[[The Korea Herald]] | date=ngày 7 tháng 11 năm 2019 | access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://ione.net/izone-huy-hop-bao-comeback-vi-be-boi-gian-lan-tai-produce-48-4008586.html|tựa đề=IZONE hủy họp báo comeback vì bê bối gian lận tại Produce 48|ngày truy cập=2023-07-31|archive-date=2020-09-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20200929074950/https://ione.net/izone-huy-hop-bao-comeback-vi-be-boi-gian-lan-tai-produce-48-4008586.html|url-status=dead}}</ref> Cuộc điều tra cho rằng 12 thành viên của nhóm đã được lựa chọn sẵn từ trước.<ref>{{chú thích web|url=https://news.naver.com/main/read.nhn?mode=LSD&mid=sec&oid=469&aid=0000446269&sid1=001|title=[단독] 아이즈원ㆍ엑스원 멤버 전원 시청자 투표 전 결정|last=Kang|first=Jin-goo|date = ngày 5 tháng 12 năm 2019 |website=news.naver.com|language=ko|access-date = ngày 24 tháng 1 năm 2020}}</ref> Do đó tất cả hoạt động của IZ*ONE, từ showcase đến quảng bá hay xuất hiện khách mời cũng đều hoãn vô thời hạn hoặc hủy bỏ,<ref name="koreaherald ngày 7 tháng 11 năm 2019"/><ref>{{chú thích báo | url=https://n.news.naver.com/entertain/article/108/0002822377 | title=tvN "'놀토' 9일 결방, 하이라이트 방송"..아이즈원 논란에 休(공식) | language=ko | work=Star News | date=ngày 7 tháng 11 năm 2019| access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref>{{chú thích báo | url=https://n.news.naver.com/entertain/now/article/076/0003493443 | title=[공식입장]MBC 측 "'마리텔2' 아이즈원, 안유진 포함 출연분 통편집 확정"(종합) | language=ko | work=Sports Chosun | date=ngày 7 tháng 11 năm 2019 | access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref>{{chú thích báo | url=https://entertain.naver.com/read?oid=117&aid=0003298029 | title=아이즈원, 컴백쇼도 결국 취소...엠넷 재팬 발표 "대단히 죄송" 사과 [공식] | language=ko | work=My Daily | date=ngày 7 tháng 11 năm 2019 | access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref>{{chú thích báo | url=https://n.news.naver.com/entertain/now/article/076/0003493158 | title=[공식입장]JTBC "아이즈원, '아이돌룸' 녹화 이미 완료...방송 여부 미정" | language=ko | work=Sports Chosun | date=ngày 7 tháng 11 năm 2019 | access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref>{{chú thích báo | url=https://n.news.naver.com/entertain/article/108/0002822122 | title=아이즈원, 11일 컴백 쇼케이스 결국 취소(공식) | language=ko | work=Star News | date=ngày 7 tháng 11 năm 2019 | access-date =ngày 7 tháng 11 năm 2019}}</ref> kể cả bộ phim concert đầu tiên của nhóm ''IZ*ONE: Ngước nhìn tôi'' cũng hoãn ngày phát hành,<ref name="nikkansports ngày 8 tháng 11 năm 2019">{{chú thích báo | url=https://www.nikkansports.com/entertainment/news/201911080000731.html | title=IZ*ONEコンサートフィルム中止、関係者が逮捕 | language=ja | work=[[Nikkan Sports]] | date=ngày 8 tháng 11 năm 2019 | access-date =ngày 8 tháng 11 năm 2019}}</ref> nhóm cũng không được quảng bá tại Nhật,<ref>{{chú thích báo | url=https://www.oricon.co.jp/news/2149639/full/ | title=IZ*ONE、日本での各種イベントが延期に | language=ja | work=[[Oricon]] | date=ngày 28 tháng 11 năm 2019 | access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2019}}</ref><ref>{{chú thích báo | url=https://www.oricon.co.jp/news/2150261/full/ | title=IZ*ONE、ファンクラブサイト更新&新規受付を一時休止 投票不正操作疑惑の余波 | language=ja | work=[[Oricon]] | date=ngày 4 tháng 12 năm 2019 | access-date =ngày 5 tháng 12 năm 2019}}</ref> và IZ*ONE có nguy cơ phải tan rã.<ref>{{Chú thích web|url=https://ione.net/izone-va-x1-bi-tay-chay-dung-truoc-nguy-co-tan-ra-4009209.html|tựa đề=IZONE và X1: Bị tẩy chay, đứng trước nguy cơ tan rã|ngày=ngày 8 tháng 11 năm 2019|website=ione|ngày truy cập=ngày 23 tháng 11 năm 2020|archive-date=2020-11-27|archive-url=https://web.archive.org/web/20201127074600/https://ione.net/izone-va-x1-bi-tay-chay-dung-truoc-nguy-co-tan-ra-4009209.html|url-status=dead}}</ref> |
||
=== 2020–2021: Quay trở lại hoạt động, '' |
=== 2020–2021: Quay trở lại hoạt động, ''BLOOM*IZ'', ''Oneiric Diary'', ''Twelve'', ''One-reeler/Act IV'' và tan rã === |
||
Ngày 6 tháng 1 năm 2020, Off The Record Entertainment chính thức xác nhận rằng tất cả các công ty chủ quản có liên quan cùng với [[CJ ENM]] đã đi đến thỏa thuận cho phép các thành viên được tiếp tục hoạt động cùng với nhóm.<ref>{{chú thích web|title=[단독] 아이즈원, 이르면 1월 내 활동 |
Ngày 6 tháng 1 năm 2020, Off The Record Entertainment chính thức xác nhận rằng tất cả các công ty chủ quản có liên quan cùng với [[CJ ENM]] đã đi đến thỏa thuận cho phép các thành viên được tiếp tục hoạt động cùng với nhóm.<ref>{{chú thích web|title=[단독] 아이즈원, 이르면 1월 내 활동 재개...이미 합의 완료|url=https://n.news.naver.com/entertain/article/477/0000226476|work=SpoTVNews|via=Naver|access-date =ngày 7 tháng 1 năm 2020|date=ngày 6 tháng 1 năm 2020|language=ko}}</ref><ref>{{chú thích web|title=[단독] 아이즈원, 활동 재개 합의 완료|url=https://n.news.naver.com/entertain/article/312/0000429485|work=TenAsia|via=Naver|access-date =ngày 6 tháng 1 năm 2020|date=ngày 6 tháng 1 năm 2020|language=ko}}</ref> Do đó, IZ*ONE phát hành [[album phòng thu]] đầu tiên của mình ''[[BLOOM*IZ]]'' với bài hát chủ đề "[[Fiesta (bài hát của Iz*One)|Fiesta]]" vào ngày 17 tháng 2.<ref>{{Chú thích web|url=http://tiin.vn/chuyen-muc/nhac/gan-3-thang-ngung-hoat-dong-izone-lang-lang-tung-bo-anh-moi-voi-concept-co-dau-mung-ngay-comeback.html|tựa đề=Gần 3 tháng ngừng hoạt động, IZ*ONE 'lẳng lặng' tung bộ ảnh mới với concept cô dâu mừng ngày comeback}}</ref><ref>{{chú thích web|title=아이즈원, 오늘(17일) 컴백...정규 1집 앨범 발매|url=https://entertain.naver.com/read?oid=277&aid=0004625293|work=Asiae|via=Naver|access-date =ngày 17 tháng 2 năm 2020|date=ngày 17 tháng 2 năm 2020|language=ko}}</ref><ref>{{chú thích web|title=아이즈원, 오늘(17일) 정규 '블룸아이즈' 발매...컴백쇼 개최|url=https://entertain.naver.com/read?oid=052&aid=0001401831|work=YTN|via=Naver|access-date =ngày 17 tháng 2 năm 2020|date=ngày 17 tháng 2 năm 2020|language=ko}}</ref> Ngày 23 tháng 2, một tuần sau đó, ''Bloom*Iz'' phá kỷ lục trở thành album của nhóm nhạc nữ có số lượng bán ra tuần đầu cao nhất trên Hanteo với 356.313 bản trong bảy ngày; và cũng là nhóm nhạc nữ đầu tiên trong lịch sử bảng xếp hạng Hanteo vượt mốc 300.000 bản tuần đầu. KMCA trao chứng nhận Bạch Kim cho ''Bloom*Iz'' vào ngày 9 tháng 4 sau khi bán được 390.000 đơn vị.<ref>{{chú thích web|title=2020년 02월 Album Chart|url=http://www.gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=02&hitYear=2020&termGbn=month|url-status=live|access-date =ngày 6 tháng 9 năm 2020|website=Gaon Music Chart}}</ref><ref>{{chú thích web|date=ngày 9 tháng 4 năm 2020|title=Bloom*Iz's Platinum Certification|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/certification/list.gaon|url-status=live|access-date =ngày 6 tháng 9 năm 2020|website=Gaon Music Chart}}</ref> Bên cạnh thành tích nội địa, BLOOM*IZ tiếp nối hai mini-album trước đó đứng đầu Oricon Overseas Album Chart.<ref>{{chú thích web|last=Yonhap|date=ngày 26 tháng 2 năm 2020|title=IZ*ONE's 'Bloom*Iz' tops Oricon weekly overseas album chart|url=http://www.koreaherald.com/view.php?ud=20200226000814|url-status=live|access-date =ngày 6 tháng 9 năm 2020|website=The Korea Herald|language=en}}</ref> "Fiesta" có chiến thắng tuần đầu tiên trên ''[[The Show]]'' của [[SBS]] vào ngày 25 tháng 2. |
||
Ngày 19 tháng 5, IZ*ONE xác nhận mini-album thứ ba ''[[Oneiric Diary (EP)|Oneiric Diary]]'' sẽ được phát hành vào ngày 15 tháng 6.<ref>{{chú thích web|title=아이즈원, 6월 15일 컴백 |
Ngày 19 tháng 5, IZ*ONE xác nhận mini-album thứ ba ''[[Oneiric Diary (EP)|Oneiric Diary]]'' sẽ được phát hành vào ngày 15 tháng 6.<ref>{{chú thích web|title=아이즈원, 6월 15일 컴백 확정...준비된 콘텐츠 순차적으로 공개 [공식]|url=https://entertain.naver.com/now/read?oid=311&aid=0001148234|work=Xportsnews|via=Naver|access-date =ngày 18 tháng 5 năm 2020|date=ngày 18 tháng 5 năm 2020|language=ko}}</ref> Ngày 15 tháng 6 năm 2020, nhóm phát hành ''Oneiric Diary'' cùng với bài hát chủ đề "Secret Story of the Swan" ({{ko-hhrm|환상동화||Hwansangdonghwa|hanviet=Huyễn Tưởng Đồng Thoại}}), tuy nhiên video âm nhạc của bài hát lùi ngày phát hành sang trưa ngày hôm sau, ngày 16 tháng 6. Cùng ngày phát hành album, nhóm tổ chức buổi showcase trên kênh YouTube thứ hai của Mnet ''M2''. Ngày 22 tháng 6, IZ*ONE được xác nhận một lần nữa phá kỷ lục doanh số album tuần đầu của nhóm nhạc nữ trên Hanteo lúc bấy giờ, nhóm bán được 389.334 bản trong vòng một tuần kể từ ngày phát hành.<ref>{{chú thích web|title=걸그룹 아이즈원, '환상일기' 38만9000장 판매 기록...역대 걸그룹 최고 기록|url=https://entertain.naver.com/read?oid=021&aid=0002432518|work=Munhwa Ilbo|via=Naver|access-date =ngày 23 tháng 6 năm 2020|date=ngày 22 tháng 6 năm 2020|language=ko}}</ref> ''Oneiric Diary'' ghi nhận hơn 510.000 bản được bán ra trên [[Gaon Music Chart|Gaon]] và nhận được chứng nhận Bạch Kim Kép vào ngày 6 tháng 8, trở thành một trong những album của nhóm nhạc nữ đầu tiên ở Hàn Quốc nhận được chứng nhận này, cùng với album ''[[More & More (EP)|More & More]]'' của [[Twice]].<ref>{{chú thích web|date=ngày 6 tháng 8 năm 2020|title=2020년 06월 Album Chart|url=http://www.gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=06&hitYear=2020&termGbn=month|url-status=live|access-date =ngày 6 tháng 9 năm 2020|website=Gaon Music Chart}}</ref><ref>{{chú thích web|date=ngày 6 tháng 8 năm 2020|title=Oneiric Diary's Double Platinum Certification|url=http://www.gaonchart.co.kr/main/section/certification/list.gaon|url-status=live|access-date =ngày 6 tháng 9 năm 2020|website=Gaon Music Chart}}</ref> |
||
⚫ | Trong tháng 6, nhóm ra mắt phim điện ảnh ''IZ*ONE: Ngước nhìn tôi'' ({{ |
||
⚫ | Trong tháng 6, nhóm ra mắt phim điện ảnh ''IZ*ONE: Ngước nhìn tôi'' ({{Langx|en|Eyes On Me: The Movie}}), phim từng dự kiến phát hành tháng 11 năm 2019 nhưng bị hoãn ngày công chiếu do lùm xùm xoay quanh nhóm thời điểm đó.<ref>{{Chú thích web|date=ngày 8 tháng 6 năm 2020|title=아이즈원 영화 '아이즈: 온 미', 7개월 만에 개봉..예매율 1위|url=http://www.sporbiz.co.kr/news/articleView.html?idxno=445072|url-status=live|access-date =ngày 12 tháng 3 năm 2021|website=Sports News|language=ko}}</ref> Ngày 6 tháng 8, Stone Music Entertainment chính thức thông báo về một buổi hòa nhạc trực tuyến diễn ra trong tháng 9 và bắt đầu mở bán vé từ ngày 11 tháng 8.<ref>{{Chú thích web|last=Ahn|first=Jin-yong|date=ngày 6 tháng 8 năm 2020|title=아이즈원(IZ*ONE), 9월 온라인 콘서트 'ONEIRIC THEATER' 개최... 11일 티켓 오픈|url=http://www.munhwa.com/news/view.html?no=20200806MW075315593242|url-status=live|access-date =ngày 12 tháng 3 năm 2021|website=Munhwa Ilbo|language=ko}}</ref> Ngày 13 tháng 9, IZ*ONE tổ chức buổi hòa nhạc trực tuyến solo đầu tiên của nhóm mang tên ''Oneiric Theater'', đêm diễn kéo dài 160 phút và được hỗ trợ bởi công nghệ [[thực tế tăng cường]] và [[thực tế mở rộng]] nhằm tăng trải nghiệm cho người xem.<ref name="oneiric theater">{{Chú thích web|date=ngày 14 tháng 9 năm 2020|title=아이즈원, 온라인 콘서트 'ONEIRIC THEATER'|url=https://entertain.naver.com/read?oid=438&aid=0000030166|archive-url=|archive-date=|access-date =ngày 10 tháng 10 năm 2020|website=Naver News|language=ko}}</ref><ref>{{Chú thích web|date=ngày 15 tháng 9 năm 2020|title=IZ*ONEが生バンド従え新たな顔見せた配信ライブ、意外な選曲続出のユニットコーナーも|url=https://natalie.mu/music/news/396248|archive-url=|archive-date=|access-date =ngày 10 tháng 10 năm 2020|website=Natalie|language=ja}}</ref> |
||
[[Tập tin:Izone Oneiric Theater poster.jpg|nhỏ|Poster 'Oneiric Theater' của Izone]] |
|||
Ngày 2 tháng 9, IZ*ONE tiết lộ nhóm sẽ phát hành album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên của mình, ''[[Twelve (album của Iz*One)|Twelve]]'', vào ngày 21 tháng 10.<ref>{{Chú thích web|date=ngày 2 tháng 9 năm 2020|title=IZ*ONE日本1stアルバム「Twelve」 リリース決定|url=https://www.universal-music.co.jp/izone/news/ngày 2 tháng 9 năm 2020/|archive-url=|archive-date=|access-date =ngày 6 tháng 9 năm 2020|website=Universal Music Japan|language=ja}}{{Liên kết hỏng|date=ngày 14 tháng 10 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}</ref> Trước khi chính thức phát hành ''Twelve'' hai tuần, vào ngày 7 tháng 10, IZ*ONE phát hành video âm nhạc cho bài hát chủ đề của album, "Beware" trên kênh YouTube chính thức của nhóm.<ref>{{Chú thích web|date=ngày 7 tháng 10 năm 2020|title=ガオガオダンスに注目!IZ*ONE(アイズワン)日本1stアルバム「Twelve」タイトル曲「Beware」MV公開|url=https://k-plaza.com/2020/10/izone-41.html|archive-url=|archive-date=|access-date =ngày 10 tháng 10 năm 2020|website=K-Plaza|language=ja}}</ref> Album ra mắt tại vị trí thứ nhất trên [[Oricon Albums Chart|Oricon Album Chart]].<ref>{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/rank/ja/w/ngày 2 tháng 11 năm 2020/|publisher=Oricon|language=ja|script-title=ja:週間 アルバムランキング 2020年11月02日付|trans-title=Weekly Album Ranking 2020/11/02|archive-url=https://web.archive.org/web/20201028062509/https://www.oricon.co.jp/rank/ja/w/ng%C3%A0y|archive-date=2020-10-28|access-date=ngày 28 tháng 10 năm 2020|url-status=live}}</ref> |
Ngày 2 tháng 9, IZ*ONE tiết lộ nhóm sẽ phát hành album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên của mình, ''[[Twelve (album của Iz*One)|Twelve]]'', vào ngày 21 tháng 10.<ref>{{Chú thích web|date=ngày 2 tháng 9 năm 2020|title=IZ*ONE日本1stアルバム「Twelve」 リリース決定|url=https://www.universal-music.co.jp/izone/news/ngày 2 tháng 9 năm 2020/|archive-url=|archive-date=|access-date =ngày 6 tháng 9 năm 2020|website=Universal Music Japan|language=ja}}{{Liên kết hỏng|date=ngày 14 tháng 10 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}</ref> Trước khi chính thức phát hành ''Twelve'' hai tuần, vào ngày 7 tháng 10, IZ*ONE phát hành video âm nhạc cho bài hát chủ đề của album, "Beware" trên kênh YouTube chính thức của nhóm.<ref>{{Chú thích web|date=ngày 7 tháng 10 năm 2020|title=ガオガオダンスに注目!IZ*ONE(アイズワン)日本1stアルバム「Twelve」タイトル曲「Beware」MV公開|url=https://k-plaza.com/2020/10/izone-41.html|archive-url=|archive-date=|access-date =ngày 10 tháng 10 năm 2020|website=K-Plaza|language=ja}}</ref> Album ra mắt tại vị trí thứ nhất trên [[Oricon Albums Chart|Oricon Album Chart]].<ref>{{chú thích web|url=https://www.oricon.co.jp/rank/ja/w/ngày 2 tháng 11 năm 2020/|publisher=Oricon|language=ja|script-title=ja:週間 アルバムランキング 2020年11月02日付|trans-title=Weekly Album Ranking 2020/11/02|archive-url=https://web.archive.org/web/20201028062509/https://www.oricon.co.jp/rank/ja/w/ng%C3%A0y|archive-date=2020-10-28|access-date=ngày 28 tháng 10 năm 2020|url-status=live}}</ref> |
||
Ngày 10 tháng 11, công ty đưa ra thông báo rằng IZ*ONE đang chuẩn bị cho sản phẩm âm nhạc mới sẽ phát hành vào thời điểm nào đó trong vào tháng 12.<ref>{{chú thích web|last=Hwang|first=Ji-young|date=ngày 10 tháng 11 năm 2020|title=아이즈원, 12월 |
Ngày 10 tháng 11, công ty đưa ra thông báo rằng IZ*ONE đang chuẩn bị cho sản phẩm âm nhạc mới sẽ phát hành vào thời điểm nào đó trong vào tháng 12.<ref>{{chú thích web|last=Hwang|first=Ji-young|date=ngày 10 tháng 11 năm 2020|title=아이즈원, 12월 컴백...막바지 앨범 작업 중 [공식]|url=https://n.news.naver.com/entertain/now/article/241/0003067284|url-status=live|access-date =ngày 10 tháng 11 năm 2020|website=Naver|language=ko}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://billboardvn.vn/5-thang-truoc-khi-het-han-hop-dong-izone-thong-bao-comeback-vao-thang-muoi-hai/|tựa đề=5 tháng trước khi hết hạn hợp đồng, IZ*ONE thông báo comeback vào tháng Mười Hai|ngày=10 tháng 11 năm 2020|website=Billboard Vietnam|ngày truy cập=11 tháng 3 năm 2021|archive-date=2021-05-07|archive-url=https://web.archive.org/web/20210507070355/https://billboardvn.vn/5-thang-truoc-khi-het-han-hop-dong-izone-thong-bao-comeback-vao-thang-muoi-hai/|url-status=dead}}</ref> Ngày 17 tháng 11, nhóm xác nhận sẽ quay trở lại vào ngày 7 tháng 12 với mini-album thứ tư ''[[One-reeler/Act IV]]''.<ref>{{chú thích web|date=ngày 17 tháng 11 năm 2020|title=[단독] 아이즈원, 12월 7일 컴백 확정|url=https://n.news.naver.com/entertain/now/article/117/0003432459|url-status=live|access-date =ngày 17 tháng 11 năm 2020|website=Naver|language=ko}}</ref> Trước ngày phát hành album một ngày, ngày 6 tháng 12, tại sân khấu [[Giải thưởng Âm nhạc Châu Á Mnet]] năm 2020, IZ*ONE có một màn biểu diễn đặc biệt, lần đầu tiên trình diễn bài hát chủ đề của album "[[Panorama (bài hát của Iz*One)|Panorama]]".<ref>{{Chú thích web|url=https://sports.chosun.com/news/ntype.htm?id=202012060100046860002793&servicedate=20201206|tựa đề=[공식] 아이즈원, '2020 MAMA'서 신곡 '파노라마' 무대 최초공개|ngày=ngày 6 tháng 12 năm 2020|website=Sports Chosun|ngày truy cập=ngày 7 tháng 12 năm 2020}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://billboardvn.vn/izone-chot-nam-bang-mv-panorama-gay-an-tuong-tu-giay-dau-tien-voi-vu-dao-hoa-no/|tựa đề=IZ*ONE chốt năm bằng MV "Panorama", gây ấn tượng từ giây đầu tiên với vũ đạo "hoa nở"|ngày=7 tháng 12 năm 2020|website=Billboard Vietnam|ngày truy cập=11 tháng 3 năm 2021|archive-date=2023-01-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20230129154722/https://billboardvn.vn/izone-chot-nam-bang-mv-panorama-gay-an-tuong-tu-giay-dau-tien-voi-vu-dao-hoa-no/|url-status=dead}}</ref> Album ra mắt tại ví trí đầu tiên trên Gaon Album Chart. Tháng 2 năm 2021, ''One-reeler/Act IV'' chính thức nhận được chứng nhận Bạch Kim từ Gaon sau khi bán được hơn 250.000 bản.<ref>Doanh số tổng của ''One-reeler / Act IV'': 437,282 (CD) + 19,051 (Kit) |
||
* {{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=12&hitYear=2020&termGbn=month|title=2020년 12월 Album Chart (One-reeler / Act IV: see #2 (CD), #22 (Kit))|language=ko|publisher=Korea Music Content Association|work=Gaon|access-date =7 tháng 1 năm 2021}} |
* {{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=12&hitYear=2020&termGbn=month|title=2020년 12월 Album Chart (One-reeler / Act IV: see #2 (CD), #22 (Kit))|language=ko|publisher=Korea Music Content Association|work=Gaon|access-date =7 tháng 1 năm 2021}} |
||
* {{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=01&hitYear=2021&termGbn=month|title=2021년 01월 Album Chart (One-reeler / Act IV: see #61 (CD)|language=ko|publisher=Korea Music Content Association|work=Gaon|access-date =11 tháng 2 năm 2021}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/certification/list.gaon?serviceGbn=ALBUM|title=Gaon Certification - Album|website=Gaon Chart|publisher=Korea Music Content Association|language=ko|access-date =11 tháng 2 năm 2021}}</ref> |
* {{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/chart/album.gaon?nationGbn=T&serviceGbn=&targetTime=01&hitYear=2021&termGbn=month|title=2021년 01월 Album Chart (One-reeler / Act IV: see #61 (CD)|language=ko|publisher=Korea Music Content Association|work=Gaon|access-date =11 tháng 2 năm 2021}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://gaonchart.co.kr/main/section/certification/list.gaon?serviceGbn=ALBUM|title=Gaon Certification - Album|website=Gaon Chart|publisher=Korea Music Content Association|language=ko|access-date =11 tháng 2 năm 2021}}</ref> |
||
Dòng 101: | Dòng 101: | ||
Vào ngày 26 tháng 1 năm 2021, nhóm phát hành bài hát nhạc số "[[D-D-Dance]]" để quảng bá cho nền tảng giải trí K-Pop toàn cầu ''Universe'', với video âm nhạc chính thức phát hành sau đó hai ngày.<ref>{{Chú thích web|url=https://world.kbs.co.kr/service/contents_view.htm?lang=v&menu_cate=enternews&id=&board_seq=397794|tựa đề=NCSoft ra mắt nền tảng giải trí K-pop toàn cầu mới "Universe"|ngày=29 tháng 1 năm 2021|ngày truy cập=11 tháng 3 năm 2021}}</ref> Vào ngày 10 tháng 2, IZ*ONE xác nhận sẽ tổ chức buổi hòa nhạc trực tuyến mang tên ''One, The Story'' vào hai ngày 13 và 14 tháng 3.<ref name="one, the story">{{chú thích web|url=https://www.edaily.co.kr/news/read?newsId=01275926628949208&mediaCodeNo=258|title=아이즈원, 온라인 콘서트 3월 개최|website=eDaily|language=ko|access-date =11 tháng 3 năm 2021|date=10 tháng 2 năm 2021}}</ref> Ngày 15 tháng 2, năm thành viên Kwon Eun-bi, Miyawaki Sakura, Kim Min-ju, Jo Yu-ri và Jang Won-young cùng tham gia vào đĩa đơn quảng bá "[[Zero:Attitude]]" cùng với [[Soyou]], và pH-1. Bài hát được phát hành trong khuôn khổ chiến dịch [[Pepsi]] X [[Starship Entertainment|Starship]].<ref name="pepsixstarship"/> Ngoài ra nhóm còn tham gia vào [[album tổng hợp]] ''Rewind: Blossom Side'' và hát lại ca khúc nổi tiếng "3!4!" của Roo'ra.<ref>{{Chú thích web|title=IZ*ONE to remake Roo'ra's '3!4!' for 'Rewind: Blossom' project Part. 2|work=allkpop|url=https://www.allkpop.com/article/2021/03/izone-to-remake-rooras-34-for-rewind-blossom-project-part-2|access-date =7 tháng 4 năm 2021|archive-date=12 tháng 4 năm 2021|archive-url=https://web.archive.org/web/20210412143356/https://www.allkpop.com/article/2021/03/izone-to-remake-rooras-34-for-rewind-blossom-project-part-2|url-status=live}}</ref> |
Vào ngày 26 tháng 1 năm 2021, nhóm phát hành bài hát nhạc số "[[D-D-Dance]]" để quảng bá cho nền tảng giải trí K-Pop toàn cầu ''Universe'', với video âm nhạc chính thức phát hành sau đó hai ngày.<ref>{{Chú thích web|url=https://world.kbs.co.kr/service/contents_view.htm?lang=v&menu_cate=enternews&id=&board_seq=397794|tựa đề=NCSoft ra mắt nền tảng giải trí K-pop toàn cầu mới "Universe"|ngày=29 tháng 1 năm 2021|ngày truy cập=11 tháng 3 năm 2021}}</ref> Vào ngày 10 tháng 2, IZ*ONE xác nhận sẽ tổ chức buổi hòa nhạc trực tuyến mang tên ''One, The Story'' vào hai ngày 13 và 14 tháng 3.<ref name="one, the story">{{chú thích web|url=https://www.edaily.co.kr/news/read?newsId=01275926628949208&mediaCodeNo=258|title=아이즈원, 온라인 콘서트 3월 개최|website=eDaily|language=ko|access-date =11 tháng 3 năm 2021|date=10 tháng 2 năm 2021}}</ref> Ngày 15 tháng 2, năm thành viên Kwon Eun-bi, Miyawaki Sakura, Kim Min-ju, Jo Yu-ri và Jang Won-young cùng tham gia vào đĩa đơn quảng bá "[[Zero:Attitude]]" cùng với [[Soyou]], và pH-1. Bài hát được phát hành trong khuôn khổ chiến dịch [[Pepsi]] X [[Starship Entertainment|Starship]].<ref name="pepsixstarship"/> Ngoài ra nhóm còn tham gia vào [[album tổng hợp]] ''Rewind: Blossom Side'' và hát lại ca khúc nổi tiếng "3!4!" của Roo'ra.<ref>{{Chú thích web|title=IZ*ONE to remake Roo'ra's '3!4!' for 'Rewind: Blossom' project Part. 2|work=allkpop|url=https://www.allkpop.com/article/2021/03/izone-to-remake-rooras-34-for-rewind-blossom-project-part-2|access-date =7 tháng 4 năm 2021|archive-date=12 tháng 4 năm 2021|archive-url=https://web.archive.org/web/20210412143356/https://www.allkpop.com/article/2021/03/izone-to-remake-rooras-34-for-rewind-blossom-project-part-2|url-status=live}}</ref> |
||
Vào giữa tháng 3 năm 2021, Mnet đưa ra thông báo rằng IZ*ONE sẽ tan rã vào tháng 4 năm 2021. "IZ*ONE ra mắt vào năm 2018 với album COLOR*IZ và đã phát triển thành nhóm nhạc nữ đại diện cho châu Á. Họ được yêu thích không chỉ ở Hàn Quốc mà còn trên toàn thế giới. Các hoạt động của IZ*ONE sẽ kết thúc vào tháng 4. Buổi hòa nhạc trực tuyến ''One, The Story'' dự kiến sẽ được tổ chức trong hai ngày 13 và 14 tháng 3 để tri ân những khán giả yêu mến IZ*ONE", Mnet thông báo.<ref name="disband_SportsDA"/> Sau khi thông tin IZ*ONE sẽ tan rã được công bố, cộng đồng người hâm mộ WIZ*ONE đã phát động Dự án Parallel Universe ({{ko-hhrm|평행우주 프로젝트||Pyeonghaeng-uju Peurojekteu|lit= "Dự án Vũ trụ Song song"}}) vào ngày 21 tháng 4 năm 2021 với mục đích ngăn nhóm tan rã. Cái tên "Parallel Universe" xuất phát từ bài hát cùng tên được phát hành trong khuôn khổ buổi hòa nhạc cuối cùng của nhóm, ''One, The Story''. Dự án đạt được cột mốc gây quỹ 1 tỷ [[Won Hàn Quốc]] (xấp xỉ hơn 20 tỷ [[Việt Nam đồng]]) chỉ sau 20 phút, và đạt hơn 2,186 tỷ Won Hàn Quốc (xấp xỉ 44,5 tỷ Việt Nam đồng) sau hai ngày.<ref>{{chú thích web|date = ngày 22 tháng 4 năm 2021 |title=IZ*ONE fans raise US$2million in hopes of keeping the group from disbanding|url=https://www.nme.com/en_asia/news/music/izone-fans-raise-usd-2million-keep-group-from-disbanding-2925545|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |website=NME|language=en}}</ref> Mặc dù nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ cộng đồng người hâm mộ, IZ*ONE vẫn tan rã theo kế hoạch trước đó. Ngày 29 tháng 4 năm 2021, hợp đồng của nhóm chính thức hết hạn, ba thành viên người Nhật là Miyawaki Sakura, Yabuki Nako và Honda Hitomi quay trở về nước, những thành viên còn lại trở về công ty quản lý của mình.<ref>{{chú thích web|url=https://star.mt.co.kr/stview.php?no=2021042910225849670&type=3|title=[단독]"안녕 위즈원~" 히토미 눈물-사쿠라 위로-나코 미소 속 아이즈원 日멤버 귀국[종합][★NEWSing]|website=Star News|language=ko|access-date =29 tháng 4 năm 2021|date=29 tháng 4 năm 2021}}</ref> Sự tan rã của IZ*ONE được coi là một trong những mất mát lớn nhất và đầu tiên của K-pop trong năm 2021, theo [[Forbes]].<ref>{{chú thích web|url=https://www.forbes.com/sites/hughmcintyre/2021/04/28/izones-disbandment-marks-the-first-great-loss-in-k-pop-of-2021/?sh=6efce3c6103c|title=Iz* |
Vào giữa tháng 3 năm 2021, Mnet đưa ra thông báo rằng IZ*ONE sẽ tan rã vào tháng 4 năm 2021. "IZ*ONE ra mắt vào năm 2018 với album COLOR*IZ và đã phát triển thành nhóm nhạc nữ đại diện cho châu Á. Họ được yêu thích không chỉ ở Hàn Quốc mà còn trên toàn thế giới. Các hoạt động của IZ*ONE sẽ kết thúc vào tháng 4. Buổi hòa nhạc trực tuyến ''One, The Story'' dự kiến sẽ được tổ chức trong hai ngày 13 và 14 tháng 3 để tri ân những khán giả yêu mến IZ*ONE", Mnet thông báo.<ref name="disband_SportsDA"/> Sau khi thông tin IZ*ONE sẽ tan rã được công bố, cộng đồng người hâm mộ WIZ*ONE đã phát động Dự án Parallel Universe ({{ko-hhrm|평행우주 프로젝트||Pyeonghaeng-uju Peurojekteu|lit= "Dự án Vũ trụ Song song"}}) vào ngày 21 tháng 4 năm 2021 với mục đích ngăn nhóm tan rã. Cái tên "Parallel Universe" xuất phát từ bài hát cùng tên được phát hành trong khuôn khổ buổi hòa nhạc cuối cùng của nhóm, ''One, The Story''. Dự án đạt được cột mốc gây quỹ 1 tỷ [[Won Hàn Quốc]] (xấp xỉ hơn 20 tỷ [[Việt Nam đồng]]) chỉ sau 20 phút, và đạt hơn 2,186 tỷ Won Hàn Quốc (xấp xỉ 44,5 tỷ Việt Nam đồng) sau hai ngày.<ref>{{chú thích web|date = ngày 22 tháng 4 năm 2021 |title=IZ*ONE fans raise US$2million in hopes of keeping the group from disbanding|url=https://www.nme.com/en_asia/news/music/izone-fans-raise-usd-2million-keep-group-from-disbanding-2925545|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |website=NME|language=en}}</ref> Mặc dù nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ cộng đồng người hâm mộ, IZ*ONE vẫn tan rã theo kế hoạch trước đó. Ngày 29 tháng 4 năm 2021, hợp đồng của nhóm chính thức hết hạn, ba thành viên người Nhật là [[Miyawaki Sakura]], [[Yabuki Nako]] và [[Honda Hitomi]] quay trở về nước, những thành viên còn lại trở về công ty quản lý của mình.<ref>{{chú thích web|url=https://star.mt.co.kr/stview.php?no=2021042910225849670&type=3|title=[단독]"안녕 위즈원~" 히토미 눈물-사쿠라 위로-나코 미소 속 아이즈원 日멤버 귀국[종합][★NEWSing]|website=Star News|language=ko|access-date =29 tháng 4 năm 2021|date=29 tháng 4 năm 2021}}</ref> Sự tan rã của IZ*ONE được coi là một trong những mất mát lớn nhất và đầu tiên của K-pop trong năm 2021, theo [[Forbes]].<ref>{{chú thích web|url=https://www.forbes.com/sites/hughmcintyre/2021/04/28/izones-disbandment-marks-the-first-great-loss-in-k-pop-of-2021/?sh=6efce3c6103c|title=Iz*One's Disbandment Marks The First Great Loss In K-Pop Of 2021|website=[[Forbes]]|language=en|access-date =1 tháng 5 năm 2021|date=28 tháng 4 năm 2021}}</ref> |
||
Ngày 19 tháng 6 năm 2021, có thông tin cho rằng CJ ENM và công ty của các thành viên IZ*ONE đang tích cực thảo luận về việc tái khởi động nhóm. Không lâu sau đó CJ ENM đưa ra thông báo rằng thông tin trên là đúng, nhưng các bên vẫn chưa đi đến một quyết định cụ thể nào.<ref>{{chú thích web|url= https://laodongtre.laodong.vn/giai-tri/nguoi-ham-mo-han-quoc-cho-doi-man-tai-hop-cua-izone-922094.ldo|work=Lao Động Trẻ|date=Ngày 19 tháng 6 năm 2021|access-date =Ngày 20 tháng 6 năm 2021|title=Người hâm mộ Hàn Quốc chờ đợi màn tái hợp của IZ*ONE|language=vi}}</ref> Tuy nhiên đến ngày 6 tháng 7, dù đã có sự thảo luận tích cực giữa các bên, kế hoạch tái khởi động IZ*ONE bị huỷ bỏ do các công ty không thể đi đến một kết luận chung.<ref>{{chú thích web|last=Ziwei|first=Puah|date=6 tháng 7 năm 2021|title=Talks to reunite IZ*ONE have allegedly fallen though|url=https://www.nme.com/news/music/talks-reunite-izone-allegedly-fallen-though-2986520|url-status=live|access-date =6 tháng 7 năm 2021|website=NME|language=en-GB}}</ref> |
Ngày 19 tháng 6 năm 2021, có thông tin cho rằng [[CJ ENM]] và công ty của các thành viên IZ*ONE đang tích cực thảo luận về việc tái khởi động nhóm. Không lâu sau đó CJ ENM đưa ra thông báo rằng thông tin trên là đúng, nhưng các bên vẫn chưa đi đến một quyết định cụ thể nào.<ref>{{chú thích web|url= https://laodongtre.laodong.vn/giai-tri/nguoi-ham-mo-han-quoc-cho-doi-man-tai-hop-cua-izone-922094.ldo|work=Lao Động Trẻ|date=Ngày 19 tháng 6 năm 2021|access-date =Ngày 20 tháng 6 năm 2021|title=Người hâm mộ Hàn Quốc chờ đợi màn tái hợp của IZ*ONE|language=vi}}</ref> Tuy nhiên đến ngày 6 tháng 7, dù đã có sự thảo luận tích cực giữa các bên, kế hoạch tái khởi động IZ*ONE bị huỷ bỏ do các công ty không thể đi đến một kết luận chung.<ref>{{chú thích web|last=Ziwei|first=Puah|date=6 tháng 7 năm 2021|title=Talks to reunite IZ*ONE have allegedly fallen though|url=https://www.nme.com/news/music/talks-reunite-izone-allegedly-fallen-though-2986520|url-status=live|access-date =6 tháng 7 năm 2021|website=NME|language=en-GB}}</ref> |
||
== Các hoạt động khác == |
== Các hoạt động khác == |
||
Trước khi chính thức ra mắt, IZ*ONE đã làm đại sứ và hợp tác với một số nhãn hàng như trò chơi điện tử Overhit,<ref>{{chú thích web | url = https://www.allkpop.com/article/2018/09/izone-put-on-their-trainee-uniforms-once-again-for-mobile-game-overhit-cf-shooting-interview | website = Allkpop | access-date = ngày 15 tháng 10 năm 2018 | title= IZ*ONE put on their trainee uniforms once again for mobile game 'OVERHIT' CF shooting + interview | publisher = Beansss}}</ref> thương hiệu quần áo Salewa,<ref>{{chú thích web |url=https://neotokyo2099.com/2018/09/24/izone-x-salewa-winter-coat-collaboration-excites-fans/|website =Neo-Tokyo 2099|access-date =ngày 15 tháng 10 năm 2018|title= IZ*ONE x SALEWA winter coat collaboration excites fans worldwide|date=ngày 24 tháng 9 năm 2018}}</ref> và đồng phục trường học Skoolooks.<ref>{{chú thích web|url=http://sports.chosun.com/news/ntype.htm?id=201810150100120680009518&servicedate=20181015|work=Sports Chosun|date=ngày 15 tháng 10 năm 2018|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2018|title=아이즈원, 광고 모델로 화려한 나들이 '에쁜 애 옆에 또 예쁜 애'|language=ko}}</ref> Sang đến năm 2019, nhóm tiếp tục trở thành gương mặt đại diện cho mỹ phẩm colorgram:TOK,<ref>{{chú thích web |url=https://www.cosinkorea.com/news/article.html?no=31038|website =Cos'in Korea|access-date =12 tháng 9 năm 2018|title= 올리브영, |
Trước khi chính thức ra mắt, IZ*ONE đã làm đại sứ và hợp tác với một số nhãn hàng như trò chơi điện tử Overhit,<ref>{{chú thích web | url = https://www.allkpop.com/article/2018/09/izone-put-on-their-trainee-uniforms-once-again-for-mobile-game-overhit-cf-shooting-interview | website = Allkpop | access-date = ngày 15 tháng 10 năm 2018 | title= IZ*ONE put on their trainee uniforms once again for mobile game 'OVERHIT' CF shooting + interview | publisher = Beansss}}</ref> thương hiệu quần áo Salewa,<ref>{{chú thích web |url=https://neotokyo2099.com/2018/09/24/izone-x-salewa-winter-coat-collaboration-excites-fans/|website =Neo-Tokyo 2099|access-date =ngày 15 tháng 10 năm 2018|title= IZ*ONE x SALEWA winter coat collaboration excites fans worldwide|date=ngày 24 tháng 9 năm 2018}}</ref> và đồng phục trường học Skoolooks.<ref>{{chú thích web|url=http://sports.chosun.com/news/ntype.htm?id=201810150100120680009518&servicedate=20181015|work=Sports Chosun|date=ngày 15 tháng 10 năm 2018|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2018|title=아이즈원, 광고 모델로 화려한 나들이 '에쁜 애 옆에 또 예쁜 애'|language=ko}}</ref> Sang đến năm 2019, nhóm tiếp tục trở thành gương mặt đại diện cho mỹ phẩm colorgram:TOK,<ref>{{chú thích web |url=https://www.cosinkorea.com/news/article.html?no=31038|website =Cos'in Korea|access-date =12 tháng 9 năm 2018|title= 올리브영, '아이즈원'과 K-뷰티 브랜드 '컬러그램톡' 론칭|date=ngày 16 tháng 4 năm 2019}}</ref> nền tảng thương mại điện tử G-Market,<ref>{{chú thích web |url=https://www.yna.co.kr/view/AKR20190104041300030?input=1195m|website =Yonhap News|access-date =12 tháng 9 năm 2018|title= G마켓, 새 모델로 걸그룹 '아이즈원' 발탁|date=ngày 4 tháng 1 năm 2019}}</ref><ref>{{chú thích web |url=https://www.mk.co.kr/news/business/view/2019/06/436060/|access-date =12 tháng 9 năm 2018|title= G마켓, 아이즈원 모델로 `G마켓은 됨` 캠페인 광고 온에어|date=ngày 19 tháng 6 năm 2019}}</ref> trò chơi điện tử Fever Basket,<ref>{{chú thích web |url=https://news.naver.com/main/read.nhn?mode=LSD&mid=sec&oid=031&aid=0000483118&sid1=001|access-date =12 tháng 9 năm 2018|title= 룽투, '피버 파스켓' 홍보모델로 '아이즈원' 선정|date=ngày 27 tháng 2 năm 2019}}</ref> [[Biệt đội thần tốc|Sudden Attack]]<ref>{{chú thích web |url=http://www.greened.kr/news/articleView.html?idxno=206132|access-date =12 tháng 9 năm 2018|title= 넥슨 '서든어택', '통합시즌: 서든패스' 업데이트...'아이즈원' 신규 캐릭터로 등장|date=ngày 1 tháng 8 năm 2019}}</ref><ref>{{chú thích web |url=https://www.gamemeca.com/view.php?gid=1570646|access-date =12 tháng 9 năm 2018|title= 여성 아이돌 '아이즈원'이 서든어택 캐릭터로 나온다|date=ngày 1 tháng 8 năm 2019}}</ref> và ứng dụng di động LG U+ AR. Tuy nhiên, do vướng phải lùm xùm gian lận phiếu bầu của Mnet vào cuối năm 2019, mọi hoạt động của IZ*ONE, bao gồm cả đại sứ và quảng cáo, đều bị đóng băng cho đến khi nhóm hoạt động trở lại tháng 2 năm 2020.<ref>{{chú thích web|url= https://www.wikitree.co.kr/articles/478871|date= ngày 8 tháng 11 năm 2019|access-date =ngày 11 tháng 9 năm 2020|title="아이즈원, 하룻밤새 방송·광고·영화계에서 '손절' 당했다"|language=ko}}</ref> Tháng 7 năm 2020, sáu thành viên của IZ*ONE được mời làm người mẫu quảng cáo cho thương hiệu kính áp tròng Miche Bloomin'.<ref>{{chú thích web|url=https://prtimes.jp/main/html/rd/p/000000025.000021234.html|date=31 tháng 7 năm 2020|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2018|title=ミッシュブルーミン カラーコンタクトレンズのブランドミューズにIZ*ONEのメンバーから6名が決定!|language=ja}}</ref> Nhóm cũng xuất hiện trên một số tạp chí như ''Nylon''<ref>{{chú thích web|url= http://sports.khan.co.kr/entertainment/sk_index.html?art_id=201811161121003&sec_id=540101&pt=nv|work=Sports DongA|date=ngày 16 tháng 11 năm 2018|access-date =ngày 12 tháng 9 năm 2020|title=아이즈원, 데뷔 첫 패션지 표지모델 장식 '위즈원 궁금증에 답해요'|language=ko}}</ref> và ''[[Non-no]]''.<ref>{{chú thích web|url= https://entertain.naver.com/ranking/read?oid=382&aid=0000684180|work=Sports DongA|date=ngày 27 tháng 10 năm 2018|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2018|title=아이즈원, 데뷔 전 日 '논노' 화보 참여...독점 취재|language=ko}}</ref> Năm 2021, năm thành viên Kwon Eun-bi, Miyawaki Sakura, Kim Min-ju, Jo Yu-ri và Jang Won-young, kết hợp cùng với [[Soyou]] và [[pH-1 (raper)|pH-1]] tham gia vào ''Pepsi 2021 K-Pop Campaign'' của [[Pepsi]] X [[Starship Entertainment|Starship]], chiến dịch là nơi các nghệ sĩ K-Pop sẽ phát hành các ca khúc với những concept khác nhau, và phát hành bài hát "[[Zero:Attitude]]".<ref name="pepsixstarship">{{chú thích web|url= http://enews.imbc.com/News/RetrieveNewsInfo/306186|work=iMBC 연예|date=ngày 14 tháng 2 năm 2021|access-date =ngày 18 tháng 2 năm 2021|title=소유X아이즈원XpH-1, 신곡 'ZERO:ATTITUDE' M/V 티저 공개|language=ko}}</ref> |
||
== Phong cách nghệ thuật == |
== Phong cách nghệ thuật == |
||
Dòng 116: | Dòng 116: | ||
| description = Đoạn tiền điệp khúc cho đến phần đầu điệp khúc của "La vie en Rose", một ca khúc electropop sôi động, uyển chuyển.<ref name="BB-LveR" /> |
| description = Đoạn tiền điệp khúc cho đến phần đầu điệp khúc của "La vie en Rose", một ca khúc electropop sôi động, uyển chuyển.<ref name="BB-LveR" /> |
||
}} |
}} |
||
Kể từ khi mới ra mắt, IZ*ONE đã hợp tác với hai nhà sản xuất nổi tiếng Han Sung-soo và [[Akimoto Yasushi]], ông Han Sung-soo chịu trách nhiệm cho sản phẩm tiếng Hàn, còn ông Akimoto Yasushi chịu trách nhiệm cho sản phẩm tiếng Nhật của nhóm.<ref>{{chú thích web|url=http://stoo.asiae.co.kr/article.php?aid=50613879236|work=Sports Today|date=Ngày 1 tháng 11 năm 2018|access-date=Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title="'우익 그룹' 아이즈원 방송 출연 그만" 여론 |
Kể từ khi mới ra mắt, IZ*ONE đã hợp tác với hai nhà sản xuất nổi tiếng Han Sung-soo và [[Akimoto Yasushi]], ông Han Sung-soo chịu trách nhiệm cho sản phẩm tiếng Hàn, còn ông Akimoto Yasushi chịu trách nhiệm cho sản phẩm tiếng Nhật của nhóm.<ref>{{chú thích web|url=http://stoo.asiae.co.kr/article.php?aid=50613879236|work=Sports Today|date=Ngày 1 tháng 11 năm 2018|access-date=Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title="'우익 그룹' 아이즈원 방송 출연 그만" 여론 악화...청와대 국민청원까지|language=ko}}{{Liên kết hỏng|date=2023-01-14 |bot=InternetArchiveBot }}</ref> Dòng nhạc chính mà IZ*ONE theo đuổi là [[EDM]], cụ thể hơn là [[electropop]] và [[nhạc house|house]].<ref name=":0" /><ref name="Izone disc"/><ref name="BB-LveR"/><ref name="BB-SSotS"/> Đĩa đơn ra mắt của nhóm, "La vie en Rose", được miêu tả như "một ca khúc electropop sôi động và uyển chuyển, hấp dẫn từ lúc bắt đầu cất lên và pha trộn giữa nhiều yếu tố". Đĩa đơn tiếp theo, "Violeta", là một ca khúc pop kết hợp cùng [[tropical house]] với phần mở đầu mang hơi hướng [[future bass]]. Sau đó là "Fiesta", một ca khúc [[future house]] sôi động với âm bass và âm synth bùng nổ. Sau khi sản xuất xong album ''Bloom*Iz'' và khép lại chuỗi tác phẩm ''Flower series'', ông Han Sung-soo thông báo rằng mình sẽ ngừng việc sản xuất âm nhạc cho IZ*ONE kể từ tháng 4 năm 2020.<ref>{{chú thích web|url= https://www.yna.co.kr/view/AKR20200310088351005|work=Yonhap News|date=Ngày 10 tháng 3 năm 2020|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title=플레디스 한성수 대표 "아이즈원 프로듀싱 내달 마무리"(종합)|language=ko}}</ref> |
||
Các thành viên của IZ*ONE bắt đầu tham gia vào quá trình sản xuất âm nhạc bắt đầu từ mini-album thứ hai ''Heart*Iz'', khi Kim Min-ju và Honda Hitomi cùng tham gia viết lời cho bài hát "Really Like You", Kim Min-ju tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Hàn của "Neko ni Naritai" và Lee Chae-yeon tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Hàn của "Gokigen Sayonara".<ref>{{chú thích web|url= http://kpopherald.koreaherald.com/view.php?ud=201904021412317731724_2|work=The Korea Herald|date=Ngày 2 tháng 4 năm 2019|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title=IZ*ONE returns with new flower-themed album|language=en}}</ref> Tiếp sau đó, trong album phòng thu đầu tiên của nhóm ''Bloom*Iz'', Jang Won-young tham gia viết lời cho bài hát "Dreamlike", Kwon Eun-bi tham gia sáng tác và viết lời cho bài hát "Spaceship", Kim Min-ju tham gia viết lời cho bài hát "You&I" và Jo Yu-ri viết lời cho bài hát "Someday".<ref>{{chú thích web|url= https://news.joins.com/article/23623356|work=JoongAng Ilbo|date=Ngày 4 tháng 11 năm 2019|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title=아이즈원 권은비·조유리 자작곡에 장원영·김민주 작사 참여|language=ko}}</ref> Sang đến mini-album thứ ba ''Oneric Diary'', Honda Hitomi viết lời cho bài hát "Merry-Go-Round" cả phiên bản tiếng Hàn lẫn tiếng Nhật, Kwon Eun-bi tham gia sáng tác và các thành viên của IZ*ONE viết lời cho bài hát "With*One", và Miyawaki Sakura cùng với Yabuki Nako tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Nhật của bài hát "Secret Story of the Swan".<ref>{{chú thích web|url= http://osen.mt.co.kr/article/G1111369464|work=Osen|date=Ngày 8 tháng 6 năm 2020|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title= |
Các thành viên của IZ*ONE bắt đầu tham gia vào quá trình sản xuất âm nhạc bắt đầu từ mini-album thứ hai ''Heart*Iz'', khi Kim Min-ju và Honda Hitomi cùng tham gia viết lời cho bài hát "Really Like You", Kim Min-ju tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Hàn của "Neko ni Naritai" và Lee Chae-yeon tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Hàn của "Gokigen Sayonara".<ref>{{chú thích web|url= http://kpopherald.koreaherald.com/view.php?ud=201904021412317731724_2|work=The Korea Herald|date=Ngày 2 tháng 4 năm 2019|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title=IZ*ONE returns with new flower-themed album|language=en}}</ref> Tiếp sau đó, trong album phòng thu đầu tiên của nhóm ''Bloom*Iz'', Jang Won-young tham gia viết lời cho bài hát "Dreamlike", Kwon Eun-bi tham gia sáng tác và viết lời cho bài hát "Spaceship", Kim Min-ju tham gia viết lời cho bài hát "You&I" và Jo Yu-ri viết lời cho bài hát "Someday".<ref>{{chú thích web|url= https://news.joins.com/article/23623356|work=JoongAng Ilbo|date=Ngày 4 tháng 11 năm 2019|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title=아이즈원 권은비·조유리 자작곡에 장원영·김민주 작사 참여|language=ko}}</ref> Sang đến mini-album thứ ba ''Oneric Diary'', Honda Hitomi viết lời cho bài hát "Merry-Go-Round" cả phiên bản tiếng Hàn lẫn tiếng Nhật, Kwon Eun-bi tham gia sáng tác và các thành viên của IZ*ONE viết lời cho bài hát "With*One", và Miyawaki Sakura cùng với Yabuki Nako tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Nhật của bài hát "Secret Story of the Swan".<ref>{{chú thích web|url= http://osen.mt.co.kr/article/G1111369464|work=Osen|date=Ngày 8 tháng 6 năm 2020|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title='15일 컴백' 아이즈원, 'Oneiric Diary' 타이틀곡은 '환상동화'..멤버들 수록곡 작사[공식]|language=ko}}</ref> |
||
=== Chủ đề và hình tượng === |
=== Chủ đề và hình tượng === |
||
[[Tập tin:IZ*ONE - La Vie en Rose (Music Video Screenshot).jpeg|thumb|right|200x200px|Đội hình kết thúc trong video âm nhạc "{{nowrap|La Vie en Rose}}"]] |
[[Tập tin:IZ*ONE - La Vie en Rose (Music Video Screenshot).jpeg|thumb|right|200x200px|Đội hình kết thúc trong video âm nhạc "{{nowrap|La Vie en Rose}}"]] |
||
Ba album tiếng Hàn đầu tay của IZ*ONE là '' |
Ba album tiếng Hàn đầu tay của IZ*ONE là ''COLOR*IZ'', ''HEART*IZ'', ''BLOOM*IZ'' đều nằm trong một chuỗi tác phẩm được gọi là ''Flower series'' và mang chủ đề về hoa. ''COLOR*IZ'', phát âm giống như "colorize" có nghĩa là ''tô màu'', mang ý nghĩa mỗi thành viên đều mang một màu sắc riêng biệt. Album chọn màu đỏ, qua trung gian là bông [[hoa hồng]] để thể hiện lòng nhiệt huyết của IZ*ONE. Trong video âm nhạc của bài hát chủ đề "La Vie en Rose", các cô gái "mang trên mình bộ trang phục đỏ và trang phục da, giống như chính bài hát tạo nên hai cảm giác đối lập, đó là có sức ảnh hưởng và nữ tính mềm mại", theo Tamar Herman.<ref name="BB-LveR"/> Nối tiếp ''COLOR*IZ'' là ''HEART*IZ'', kết hợp giữa "heart" và "IZ*ONE". Bài hát chủ đề "Violeta" được truyền cảm hứng từ câu chuyện cổ tích "Hoàng tử Hạnh phúc" và đại diện cho [[chi Hoa tím|hoa tím]], hay những người mà nhóm muốn gửi gắm tình cảm; còn IZ*ONE là chú [[chim én]] đem viên [[Saphir]] hạnh phúc đến cho ai cần; ngoài ra bài hát còn đem đến thông điệp mỗi cá nhân đều có giá trị của riêng mình.<ref name="thekraze">{{chú thích web|url= http://www.thekrazemagazine.com/latest-updates/2019/4/3/izone-calls-you-their-violeta|work=The Kraze|date=Ngày 3 tháng 4 năm 2019|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title=IZ*ONE Calls You Their "Violeta"|language=en}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://channels.vlive.tv/C7A6F1/celeb/0.10594645|work=Osen|date=Ngày 2 tháng 4 năm 2019|access-date=Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title=IZone shows special love for fans through 'Violeta'|language=en|archive-date=2019-07-12|archive-url=https://web.archive.org/web/20190712013842/https://channels.vlive.tv/C7A6F1/celeb/0.10594645|url-status=dead}}</ref> Những điều đó đều được thể hiện ở vũ đạo con én của "Violeta".<ref>{{chú thích web|url= http://www.xportsnews.com/?ac=article_view&entry_id=1095723|work=Xports news|date=Ngày 1 tháng 4 năm 2019|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title='컴백' 아이즈원, 12색으로 피워낼 #비올레타 #콘서트 #소통 [종합]|language=ko}}</ref> Video âm nhạc của bài hát sử dụng "hình ảnh sống động mang chủ đề thiên nhiên", với "cảnh quay technicolor đầy mộng mơ cùng hoa cỏ, lăng kính tỏa sáng, nước té lung linh, và những thiết kế đầy tính thẩm mỹ khác".<ref>{{chú thích web|url= https://www.billboard.com/articles/columns/k-town/8504937/izone-violeta-video|work=Billboard|date=Ngày 1 tháng 4 năm 2019|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title=IZ*ONE Return to the K-Pop Scene With Vibrant 'Violeta' Video: Watch|language=en}}</ref> Khép lại ''Flower series'' là ''BLOOM*IZ'', kết hợp giữa "bloom" và "IZ*ONE", mang ý nghĩa mười hai thành viên đang ở đỉnh cao nhan sắc và đã đến lúc nở rộ.<ref>{{chú thích web|url= http://news.kmib.co.kr/article/view.asp?arcid=0014193944&code=61181111&cp=nv|work=Kikmin Ilbo|date=Ngày 3 tháng 2 năm 2020|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title=아이즈원, 컴백 확정...정규 1집 커버 이미지 공개|language=ko}}</ref> Đĩa đơn chủ đề "Fiesta" như mở ra một lễ hội hoa, "lấy những hào nhoáng lấp lánh của những năm 1920 rồi cập nhật thành phiên bản năm 2020, dọn ra một bữa tiệc toát lên vẻ sang trọng và xa hoa bậc nhất khi mười hai cô gái trình diễn ca khúc sôi động và vũ đạo ấn tượng của mình."<ref>{{chú thích web|url= https://www.billboard.com/articles/news/international/8551177/izone-fiesta-video|work=Billboard|date=Ngày 17 tháng 2 năm 2020|access-date =Ngày 14 tháng 9 năm 2018|title=IZ*ONE Return Following Hiatus with Celebratory 'Fiesta': Watch the Music Video|language=en}}</ref> |
||
== Thành viên == |
== Thành viên == |
||
Dòng 130: | Dòng 130: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" scope="col" rowspan="2"|[[Sinh nhật|<span style="color:white;">Ngày sinh</span>]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" scope="col" rowspan="2"|[[Sinh nhật|<span style="color:white;">Ngày sinh</span>]] |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" scope="col" rowspan="2"|Nơi sinh |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" scope="col" rowspan="2"|Nơi sinh |
||
| |
|||
|- style="background:#ff50a0; font-weight:bold; color:white;" |
|- style="background:#ff50a0; font-weight:bold; color:white;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Latinh hóa|<span style="color:white;">Latinh</span>]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Latinh hóa|<span style="color:white;">Latinh</span>]] |
||
Dòng 136: | Dòng 137: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Hanja|<span style="color:white;">Hanja</span>]]/[[Kanji|<span style="color:white;">Kanji</span>]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Hanja|<span style="color:white;">Hanja</span>]]/[[Kanji|<span style="color:white;">Kanji</span>]] |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Phiên âm Hán-Việt|<span style="color:white;">Hán–Việt</span>]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Phiên âm Hán-Việt|<span style="color:white;">Hán–Việt</span>]] |
||
| |
|||
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|'''[[Kwon Eun-bi]]'''{{efn|Trong tập thứ hai của ''IZ*ONE Chu'', Kwon Eun-bi được các thành viên lựa chọn làm nhóm trưởng.<ref name="leade">{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=410&aid=0000527285|title='아이즈원 츄' 권은비, 리더 몰카에 눈물...안유진X이채연 메소드 연기?|work=MK Sports|date=ngày 2 tháng 11 năm 2018|access-date =ngày 3 tháng 11 năm 2018}}</ref>}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|'''[[Kwon Eun-bi]]'''{{efn|Trong tập thứ hai của ''IZ*ONE Chu'', Kwon Eun-bi được các thành viên lựa chọn làm nhóm trưởng.<ref name="leade">{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=410&aid=0000527285|title='아이즈원 츄' 권은비, 리더 몰카에 눈물...안유진X이채연 메소드 연기?|work=MK Sports|date=ngày 2 tháng 11 năm 2018|access-date =ngày 3 tháng 11 năm 2018}}</ref>}} |
||
Dòng 144: | Dòng 146: | ||
|style="white-space: nowrap; border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="1"|'''{{birth date and age|1995|9|27}}''' |
|style="white-space: nowrap; border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="1"|'''{{birth date and age|1995|9|27}}''' |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|'''[[Seoul]], Hàn Quốc''' |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|'''[[Seoul]], Hàn Quốc''' |
||
|Solo |
|||
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Miyawaki Sakura]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Miyawaki Sakura]] |
||
Dòng 152: | Dòng 155: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="2"|{{birth date and age|1998|3|19}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="2"|{{birth date and age|1998|3|19}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Kagoshima]], Nhật Bản |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Kagoshima]], Nhật Bản |
||
|Thành viên nhóm LE SSERAFIM |
|||
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Kang Hye-won]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Kang Hye-won]] |
||
Dòng 160: | Dòng 164: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="3"|{{birth date and age|1999|7|5}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="3"|{{birth date and age|1999|7|5}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Busan]], Hàn Quốc |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Busan]], Hàn Quốc |
||
|Diễn viên |
|||
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Choi Ye-na]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Choi Ye-na]] |
||
Dòng 168: | Dòng 173: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="4"|{{birth date and age|1999|9|29}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="4"|{{birth date and age|1999|9|29}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Seoul]], Hàn Quốc |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Seoul]], Hàn Quốc |
||
|Solo |
|||
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Lee Chae-yeon]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Lee Chae-yeon]] |
||
Dòng 176: | Dòng 182: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="5"|{{birth date and age|2000|1|11}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="5"|{{birth date and age|2000|1|11}} |
||
|style="white-space: nowrap; border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Chungcheong Nam]], Hàn Quốc |
|style="white-space: nowrap; border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Chungcheong Nam]], Hàn Quốc |
||
|Solo |
|||
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Kim Chae-won (sinh 2000)|Kim Chae-won]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Kim Chae-won (sinh 2000)|Kim Chae-won]] |
||
Dòng 184: | Dòng 191: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="6"|{{birth date and age|2000|8|1}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="6"|{{birth date and age|2000|8|1}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Seoul]], Hàn Quốc |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Seoul]], Hàn Quốc |
||
|Thành viên nhóm LE SSERAFIM |
|||
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Kim Min-ju]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Kim Min-ju]] |
||
Dòng 192: | Dòng 200: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="7"|{{birth date and age|2001|2|5}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="7"|{{birth date and age|2001|2|5}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Seoul]], Hàn Quốc |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Seoul]], Hàn Quốc |
||
|Diễn viên |
|||
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Yabuki Nako]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Yabuki Nako]] |
||
Dòng 200: | Dòng 209: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="8"|{{birth date and age|2001|6|18}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="8"|{{birth date and age|2001|6|18}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Tokyo]], Nhật Bản |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Tokyo]], Nhật Bản |
||
|Trở về Nhật Bản |
|||
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Honda Hitomi]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Honda Hitomi]] |
||
Dòng 208: | Dòng 218: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="9"|{{birth date and age|2001|10|6}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="9"|{{birth date and age|2001|10|6}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Tochigi]], Nhật Bản |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Tochigi]], Nhật Bản |
||
|Thành viên nhóm SAY MY NAME |
|||
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Jo Yu-ri]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Jo Yu-ri]] |
||
Dòng 216: | Dòng 227: | ||
|style="white-space: nowrap; border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="10"|{{birth date and age|2001|10|22}} |
|style="white-space: nowrap; border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="10"|{{birth date and age|2001|10|22}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Busan]], Hàn Quốc |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Busan]], Hàn Quốc |
||
|Solo |
|||
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
|- style="height:3.5em; background:#ffffff;" |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[An Yu-jin]] |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[An Yu-jin]] |
||
Dòng 221: | Dòng 233: | ||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|{{lang|ja|アン・ユジン}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|{{lang|ja|アン・ユジン}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|{{lang|ko|安兪真}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|{{lang|ko|安兪真}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|An |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|An Hữu Trân |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="11"|{{birth date and age|2003|9|1}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="11"|{{birth date and age|2003|9|1}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Chungcheong Bắc]], Hàn Quốc |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Chungcheong Bắc]], Hàn Quốc |
||
|Thành viên nhóm IVE |
|||
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
|- style="height:3.5em; background:#f9f7f8;" |
||
|style="white-space: nowrap; border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Jang Won-young]]{{efn|Đứng thứ nhất chung cuộc Produce 48, Jang Won-young trở thành gương mặt đại diện của nhóm.}} |
|style="white-space: nowrap; border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Jang Won-young]]{{efn|Đứng thứ nhất chung cuộc Produce 48, Jang Won-young trở thành gương mặt đại diện của nhóm.}} |
||
Dòng 229: | Dòng 242: | ||
|style="white-space: nowrap; border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|{{lang|ja|チャン・ウォニョン}} |
|style="white-space: nowrap; border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|{{lang|ja|チャン・ウォニョン}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|{{lang|ko|張員瑛}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|{{lang|ko|張員瑛}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|Trương |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|Trương Nguyên Anh |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="12"|{{birth date and age|2004|8|31}} |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;" data-sort-value="12"|{{birth date and age|2004|8|31}} |
||
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Seoul]], Hàn Quốc |
|style="border:1.2px solid #ede8ea; border-style: solid solid solid solid;"|[[Seoul]], Hàn Quốc |
||
|Thành viên nhóm IVE |
|||
|} |
|} |
||
Dòng 243: | Dòng 257: | ||
{{big|'''Tiếng Hàn'''}} |
{{big|'''Tiếng Hàn'''}} |
||
;Album phòng thu |
;Album phòng thu |
||
* ''[[ |
* ''[[BLOOM*IZ]]'' (2020) |
||
;Mini-album |
;Mini-album |
||
* ''[[ |
* ''[[COLOR*IZ]]'' (2018) |
||
* ''[[ |
* ''[[HEART*IZ]]'' (2019) |
||
* ''[[Oneiric Diary (EP)|Oneiric Diary]]'' (2020) |
* ''[[Oneiric Diary (EP)|Oneiric Diary]]'' (2020) |
||
* ''[[One-reeler/Act IV]]'' (2020) |
* ''[[One-reeler/Act IV]]'' (2020) |
||
Dòng 299: | Dòng 313: | ||
| ''IZ*ONE City'' |
| ''IZ*ONE City'' |
||
| |
| |
||
|<ref>{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/now/read?oid=076&aid=0003365833|title=아이즈원, 첫 단독 웹예능 |
|<ref>{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/now/read?oid=076&aid=0003365833|title=아이즈원, 첫 단독 웹예능 출격... 입덕스쿨 아이즈원시티|work=Sports Chosun|language=ko|date=ngày 8 tháng 1 năm 2019|access-date =ngày 8 tháng 1 năm 2019|first=An-ji|last=Jeong|via=Naver}}</ref> |
||
|- |
|- |
||
| rowspan="2" | Mnet |
| rowspan="2" | Mnet |
||
Dòng 319: | Dòng 333: | ||
| ''IZ*ONE Chu – On:Tact'' |
| ''IZ*ONE Chu – On:Tact'' |
||
| |
| |
||
|<ref>{{chú thích web|url=https://www.news1.kr/articles/?4059039|title=엠넷 '아이즈원츄', 23일 첫방송 |
|<ref>{{chú thích web|url=https://www.news1.kr/articles/?4059039|title=엠넷 '아이즈원츄', 23일 첫방송 확정...온택트 시대 리얼 일상|work=News1|language=ko|date=ngày 15 tháng 9 năm 2020|access-date =ngày 15 tháng 9 năm 2020|first=Mi-hyun|last=Hwang}}</ref> |
||
|- |
|- |
||
| rowspan="3"|2021 |
| rowspan="3"|2021 |
||
Dòng 325: | Dòng 339: | ||
| ''IZ*ONE Eat-ing Trip 2'' |
| ''IZ*ONE Eat-ing Trip 2'' |
||
| |
| |
||
| <ref>{{chú thích web|url=https://aju.news/en/lgu-unveils-izones-eat-ing-trip-season-2.html|title=LGU+ Unveils |
| <ref>{{chú thích web|url=https://aju.news/en/lgu-unveils-izones-eat-ing-trip-season-2.html|title=LGU+ Unveils IZone's Eat-ing Trip Season 2|work=Enews Today|language=eng|date=27 tháng 12 năm 2020|access-date=4 tháng 2 năm 2021|archive-date=2021-04-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20210429004844/https://aju.news/en/lgu-unveils-izones-eat-ing-trip-season-2.html|url-status=dead}}</ref> |
||
|- |
|- |
||
| Universe |
| Universe |
||
Dòng 355: | Dòng 369: | ||
Chỉ vài tháng sau khi ra mắt, IZ*ONE đã nhận được nhiều giải thưởng tân binh ở các lễ trao giải lớn như [[Asia Artist Awards]],<ref> |
Chỉ vài tháng sau khi ra mắt, IZ*ONE đã nhận được nhiều giải thưởng tân binh ở các lễ trao giải lớn như [[Asia Artist Awards]],<ref> |
||
* {{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0003912978|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2018|work=OSEN|date=ngày 28 tháng 11 năm 2018|title=[2018 AAA] 아이즈원·스트레이키즈·(여자)아이들·더보이즈, 신인상 수상|language=Ko|last1=Jung|first1=Kyung-won|via=Naver|archive-url=https://web.archive.org/web/20181128210707/https://entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0003912978|archive-date=ngày 28 tháng 11 năm 2018|url-status=live}} |
* {{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0003912978|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2018|work=OSEN|date=ngày 28 tháng 11 năm 2018|title=[2018 AAA] 아이즈원·스트레이키즈·(여자)아이들·더보이즈, 신인상 수상|language=Ko|last1=Jung|first1=Kyung-won|via=Naver|archive-url=https://web.archive.org/web/20181128210707/https://entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0003912978|archive-date=ngày 28 tháng 11 năm 2018|url-status=live}} |
||
* {{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=421&aid=0003715297|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2018|work=News1|date=ngày 28 tháng 11 năm 2018|title=[2018 AAA] 아이즈원-스트레이키즈-아이들-더보이즈, 신인상 수상|language=Ko|last1=Lee|first1=Ji-hyun|via=Naver|archive-url=https://web.archive.org/web/20181128164602/https://entertain.naver.com/read?oid=421&aid=0003715297|archive-date=ngày 28 tháng 11 năm 2018|url-status=live}}</ref> [[Gaon Chart Music Awards]],<ref>{{chú thích web|url=http://www.kukinews.com/news/article.html?no=625462|access-date =ngày 9 tháng 2 năm 2019|work=Kuki News|date=ngày 23 tháng 1 năm 2019|title='가온차트뮤직어워드' 방탄소년단·아이콘 |
* {{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=421&aid=0003715297|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2018|work=News1|date=ngày 28 tháng 11 năm 2018|title=[2018 AAA] 아이즈원-스트레이키즈-아이들-더보이즈, 신인상 수상|language=Ko|last1=Lee|first1=Ji-hyun|via=Naver|archive-url=https://web.archive.org/web/20181128164602/https://entertain.naver.com/read?oid=421&aid=0003715297|archive-date=ngày 28 tháng 11 năm 2018|url-status=live}}</ref> [[Gaon Chart Music Awards]],<ref>{{chú thích web|url=http://www.kukinews.com/news/article.html?no=625462|access-date =ngày 9 tháng 2 năm 2019|work=Kuki News|date=ngày 23 tháng 1 năm 2019|title='가온차트뮤직어워드' 방탄소년단·아이콘 3관왕...허전한 가수석은 아쉬워|language=Ko|last1=Lee|first1=Eun-ho|archive-url=https://web.archive.org/web/20190209180353/http://www.kukinews.com/news/article.html?no=625462|archive-date=ngày 9 tháng 2 năm 2019|url-status=live}}</ref> [[Golden Disc Awards]],<ref>{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=009&aid=0004283908|access-date =ngày 9 tháng 2 năm 2019|work=Sports MK|date=ngày 6 tháng 1 năm 2019|title=(종합)방탄소년단, 음반 대상·본상·인기상 싹쓸이...'4관왕 기염'[2019 골든디스크]|language=Ko|via=Naver|archive-url=https://web.archive.org/web/20190209180203/https://entertain.naver.com/read?oid=009&aid=0004283908|archive-date=ngày 9 tháng 2 năm 2019|url-status=live}}</ref> [[Mnet Asian Music Awards]]<ref>*{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0003895247|title=방탄소년단·워너원·트와이스·아이즈원, '2018 MAMA' 뜬다..초호화 라인업 확정[공식입장]|date=ngày 2 tháng 11 năm 2018|work=OSEN|language=ko|access-date =ngày 5 tháng 11 năm 2018|last1=Sung|first1=Mi-kyung|via=Naver|archive-url=https://web.archive.org/web/20181105160855/https://entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0003895247|archive-date=ngày 5 tháng 11 năm 2018|url-status=live}} |
||
* {{chú thích web|url=https://www.eonline.com/ap/news/995187/2018-mnet-asian-music-awards-winners-the-complete-list|title=2018 Mnet Asian Music Awards Winners: The Complete List|date=ngày 16 tháng 12 năm 2018|work=E! News|access-date =ngày 9 tháng 2 năm 2019|first1=Pakkee|last1=Tan|archive-url=https://web.archive.org/web/20190209180304/https://www.eonline.com/ap/news/995187/2018-mnet-asian-music-awards-winners-the-complete-list|archive-date=ngày 9 tháng 2 năm 2019|url-status=live}}</ref> và [[Seoul Music Awards]].<ref>{{chú thích web|url=https://www.billboard.com/articles/news/bts/8493735/bts-wins-top-prize-at-28th-seoul-music-awards|title=BTS Wins Top Prize at 28th Seoul Music Awards|date=ngày 16 tháng 1 năm 2019|work=Billboard|access-date =ngày 9 tháng 2 năm 2019|first1=Tamar|last1=Herman|archive-url=https://web.archive.org/web/20190210090455/https://www.billboard.com/articles/news/bts/8493735/bts-wins-top-prize-at-28th-seoul-music-awards|archive-date=ngày 10 tháng 2 năm 2019|url-status=live}}</ref> Ngoài ra trong suốt quá trình hoạt động, nhóm còn được đề cử và nhận được một số giải thưởng tại [[Genie Music Awards]],<ref>{{chú thích web|title=[MGMA] 방탄소년단, 대상 포함 6관왕 폭주...트와이스 '2관왕' (종합)|url=https://www.mk.co.kr/star/musics/view/2019/08/590802/|work=Maekyung|access-date =ngày 1 tháng 8 năm 2019|language=ko|date=ngày 1 tháng 8 năm 2019|archive-url=https://web.archive.org/web/20190801141156/https://www.mk.co.kr/star/musics/view/2019/08/590802/|archive-date=ngày 1 tháng 8 năm 2019|url-status=live}}</ref> [[Japan Gold Disc Award]],<ref>{{chú thích web|url=https://www.golddisc.jp/award/34/|title= 第34回日本ゴールドディスク大賞|website=Japan Gold Disc Award|publisher=Recording Industry Association of Japan|access-date =ngày 19 tháng 3 năm 2020|language=ja}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0004173022|access-date =ngày 19 tháng 3 năm 2020|work=Naver|date=ngày 27 tháng 2 năm 2020|title=아이즈원, 日 골드 디스크 2관왕 달성.."응원해준 팬 여러분 덕분"}}</ref> [[MTV Europe Music Awards]]<ref>{{chú thích web|url=https://metro.co.uk/2019/11/04/ateez-named-best-korean-act-mtv-emas-2019-one-year-debut-11036531/|title= Ateez named Best Korean Act at MTV EMAs 2019 one year after their debut|website=Metro UK|access-date =ngày 17 tháng 9 năm 2020|language=en}}</ref> và [[Soribada Best K-Music Awards]].<ref>{{chú thích web|title='2019 SOBA' 박지훈vs방탄소년단, 트와이스vs마마무 남·녀 인기상 1위 경쟁 '치열'|url=https://www.mk.co.kr/star/hot-issues/view/2019/07/510918/|work=Maekyung|access-date =ngày 11 tháng 7 năm 2019|language=ko|date=ngày 11 tháng 7 năm 2019|archive-url=https://web.archive.org/web/20190711091531/https://www.mk.co.kr/star/hot-issues/view/2019/07/510918/|archive-date=ngày 11 tháng 7 năm 2019|url-status=live}}</ref><ref>{{chú thích web|title='Winners Of 2020 Soribada Best K-Music Awards'|url=https://www.soompi.com/article/1418911wpp/winners-of-2020-soribada-best-k-music-awards|work=J.K|access-date=ngày 13 tháng 8 năm 2020|language=ko|date=ngày 13 tháng 8 năm 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201006022939/https://www.soompi.com/article/1418911wpp/winners-of-2020-soribada-best-k-music-awards|archive-date=2020-10-06|url-status=bot: unknown}}</ref> |
* {{chú thích web|url=https://www.eonline.com/ap/news/995187/2018-mnet-asian-music-awards-winners-the-complete-list|title=2018 Mnet Asian Music Awards Winners: The Complete List|date=ngày 16 tháng 12 năm 2018|work=E! News|access-date =ngày 9 tháng 2 năm 2019|first1=Pakkee|last1=Tan|archive-url=https://web.archive.org/web/20190209180304/https://www.eonline.com/ap/news/995187/2018-mnet-asian-music-awards-winners-the-complete-list|archive-date=ngày 9 tháng 2 năm 2019|url-status=live}}</ref> và [[Seoul Music Awards]].<ref>{{chú thích web|url=https://www.billboard.com/articles/news/bts/8493735/bts-wins-top-prize-at-28th-seoul-music-awards|title=BTS Wins Top Prize at 28th Seoul Music Awards|date=ngày 16 tháng 1 năm 2019|work=Billboard|access-date =ngày 9 tháng 2 năm 2019|first1=Tamar|last1=Herman|archive-url=https://web.archive.org/web/20190210090455/https://www.billboard.com/articles/news/bts/8493735/bts-wins-top-prize-at-28th-seoul-music-awards|archive-date=ngày 10 tháng 2 năm 2019|url-status=live}}</ref> Ngoài ra trong suốt quá trình hoạt động, nhóm còn được đề cử và nhận được một số giải thưởng tại [[Genie Music Awards]],<ref>{{chú thích web|title=[MGMA] 방탄소년단, 대상 포함 6관왕 폭주...트와이스 '2관왕' (종합)|url=https://www.mk.co.kr/star/musics/view/2019/08/590802/|work=Maekyung|access-date =ngày 1 tháng 8 năm 2019|language=ko|date=ngày 1 tháng 8 năm 2019|archive-url=https://web.archive.org/web/20190801141156/https://www.mk.co.kr/star/musics/view/2019/08/590802/|archive-date=ngày 1 tháng 8 năm 2019|url-status=live}}</ref> [[Japan Gold Disc Award]],<ref>{{chú thích web|url=https://www.golddisc.jp/award/34/|title= 第34回日本ゴールドディスク大賞|website=Japan Gold Disc Award|publisher=Recording Industry Association of Japan|access-date =ngày 19 tháng 3 năm 2020|language=ja}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://entertain.naver.com/read?oid=109&aid=0004173022|access-date =ngày 19 tháng 3 năm 2020|work=Naver|date=ngày 27 tháng 2 năm 2020|title=아이즈원, 日 골드 디스크 2관왕 달성.."응원해준 팬 여러분 덕분"}}</ref> [[MTV Europe Music Awards]]<ref>{{chú thích web|url=https://metro.co.uk/2019/11/04/ateez-named-best-korean-act-mtv-emas-2019-one-year-debut-11036531/|title= Ateez named Best Korean Act at MTV EMAs 2019 one year after their debut|website=Metro UK|access-date =ngày 17 tháng 9 năm 2020|language=en}}</ref> và [[Soribada Best K-Music Awards]].<ref>{{chú thích web|title='2019 SOBA' 박지훈vs방탄소년단, 트와이스vs마마무 남·녀 인기상 1위 경쟁 '치열'|url=https://www.mk.co.kr/star/hot-issues/view/2019/07/510918/|work=Maekyung|access-date =ngày 11 tháng 7 năm 2019|language=ko|date=ngày 11 tháng 7 năm 2019|archive-url=https://web.archive.org/web/20190711091531/https://www.mk.co.kr/star/hot-issues/view/2019/07/510918/|archive-date=ngày 11 tháng 7 năm 2019|url-status=live}}</ref><ref>{{chú thích web|title='Winners Of 2020 Soribada Best K-Music Awards'|url=https://www.soompi.com/article/1418911wpp/winners-of-2020-soribada-best-k-music-awards|work=J.K|access-date=ngày 13 tháng 8 năm 2020|language=ko|date=ngày 13 tháng 8 năm 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201006022939/https://www.soompi.com/article/1418911wpp/winners-of-2020-soribada-best-k-music-awards|archive-date=2020-10-06|url-status=bot: unknown}}</ref> |
||
Dòng 395: | Dòng 409: | ||
[[Thể loại:Nhóm nhạc K-pop]] |
[[Thể loại:Nhóm nhạc K-pop]] |
||
[[Thể loại:Nhóm nhạc nữ Hàn Quốc]] |
[[Thể loại:Nhóm nhạc nữ Hàn Quốc]] |
||
[[Thể loại:Nhóm nhạc dance Hàn Quốc]] |
|||
[[Thể loại:Nhóm nhạc pop Hàn Quốc]] |
[[Thể loại:Nhóm nhạc pop Hàn Quốc]] |
||
[[Thể loại:Ban nhạc từ Seoul]] |
[[Thể loại:Ban nhạc từ Seoul]] |
||
[[Thể loại:Produce 101]] |
[[Thể loại:Produce 101]] |
||
[[Thể loại:Khởi đầu năm 2018 ở Hàn Quốc]] |
Bản mới nhất lúc 16:55, ngày 3 tháng 1 năm 2025
IZ*ONE | |||||||
---|---|---|---|---|---|---|---|
Thông tin nghệ sĩ | |||||||
Nguyên quán | Seoul, Hàn Quốc | ||||||
Thể loại | |||||||
Năm hoạt động | 2018 | –2021||||||
Công ty quản lý | |||||||
Hãng đĩa | |||||||
Bài hát tiêu biểu | |||||||
Cựu thành viên | |||||||
Website | iz-one | ||||||
Tên tiếng Hàn | |||||||
Hangul | 아이즈원 | ||||||
| |||||||
Tên tiếng Nhật | |||||||
Katakana | アイズワン | ||||||
|
IZ*ONE (/ˈaɪz
Chỉ vài tháng sau khi ra mắt, IZ*ONE đã đạt được những thành công về mặt thương mại, như bán 225.000 đơn vị album và đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên Gaon Album Chart.[14] Cùng với đó cả album Color*Iz lẫn đĩa đơn chủ đề "La Vie en Rose" đều lần lượt xuất hiện trên bảng xếp hạng Billboard World Albums và World Digital Songs.[14] Những thành tích ngay từ khi mới ra mắt đã đem về cho nhóm giải thưởng Nghệ sỹ Mới của Năm tại một số lễ trao giải như Golden Disc Awards và Seoul Music Awards.
Đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên của nhóm, "Suki to Iwasetai", được phát hành vào ngày 6 tháng 2 năm 2019 bởi hãng đĩa EMI Records của UMG. Đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên Oricon Singles Chart và với hơn 250.000 bản được bán ra, đĩa đơn đã nhận được chứng nhận Bạch Kim của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ).[15].
Là một nhóm nhạc dự án, IZ*ONE dự kiến hoạt động từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 4 năm 2021.[16] Tháng 1 năm 2021, có nguồn tin cho rằng CJ ENM đang thảo luận với công ty quản lý của các thành viên về khả năng kéo dài thời gian hoạt động của nhóm.[17] Tuy nhiên vào giữa tháng 3, Mnet xác nhận rằng IZ*ONE sẽ chính thức tan rã vào tháng 4 năm 2021 khi hết hạn hợp đồng, các thành viên sẽ trở về công ty quản lý gốc của mình. Thêm đó, sau khi tan rã đa số các cựu thành viên IZ*ONE đều ra mắt với các vị trí khác nhau tại các công ty chủ quản mới[18][19]
Ý nghĩa tên gọi
[sửa | sửa mã nguồn]Tên của nhóm, IZ*ONE, được cư dân mạng đề xuất thông qua trang web chính thức của Produce 48 và được chọn bởi CJ E&M.[20] "IZ" được cách điệu từ số 12, ám chỉ đến việc nhóm có mười hai thành viên, "ONE" là một,[21] và dấu hoa thị (*) được đặt giữa "IZ" và "ONE" tượng trưng cho mười hai ngôi sao,[22][23] tổng thể mang ý nghĩa "khoảnh khắc mười hai ngôi sao với những màu sắc khác nhau hòa làm một".[24] Tên cộng đồng người hâm mộ chính thức của nhóm là WIZ*ONE (/ˈwɪz
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Trước khi được thành lập
[sửa | sửa mã nguồn]Trước khi tham gia Produce 48, một số thành viên đã có hoạt động nghệ thuật và thành tích nhất định. Miyawaki Sakura từng tham gia vào vở nhạc kịch Vua sư tử (2008–2009) của Shiki Theatre Company;[26][27] Yabuki Nako từng xuất hiện trong phiên bản live-action của Touch (2005), tham gia một số bộ phim truyền hình và quảng cáo khác;[28][29] trước khi cả hai gia nhập HKT48 lần lượt vào năm 2011 và 2013.[30][31] Honda Hitomi ra mắt vào năm 2014 với tư cách là thành viên của AKB48.[32] Kwon Eun-bi ra mắt cùng nhóm nhạc Ye-A dưới nghệ danh Ka.Zoo vào năm 2014 nhưng nhóm tan rã vào năm 2015.[33] Lee Chae-yeon từng là thí sinh của K-pop Star 3 (2013-2014) và Sixteen (2015) nhưng đều bị loại.[34] Sau đó cô rời JYP Entertainment và chuyển đến WM Entertainment. Jo Yu-ri từng tham gia chương trình Idol School vào năm 2017 nhưng xếp thứ 15 trong đêm chung kết và bị loại.[35] Kim Min-ju từng góp mặt trong một vài video âm nhạc và bộ phim truyền hình, nổi bật là Trò chơi tình yêu (2018) của đài MBC, cô đóng vai Choi Soo-ji (Moon Ga-young thủ vai) lúc trẻ.[36][37] An Yu-jin từng được đào tạo tại Jellyfish Entertainment trong 5 tháng, trước khi gia nhập Starship Entertainment. Cô cũng tham gia đóng nhiều quảng cáo và video âm nhạc, nổi bật là quảng cáo kính áp tròng Acuvue Vita.[38][39] Kang Hye-won từng thực tập tại HYWY Entertainment và nằm trong dự án ra mắt nhóm nhạc nữ DAYDAY nhưng sau đó bị loại và kế hoạch ra mắt nhóm cũng bị hủy.[40] Cô gia nhập 8D Creative sau khi rời HYWY Entertainment. Choi Ye-na từng là thực tập sinh của Polaris Entertainment, được đào tạo cùng với thành viên Heejin và Hyunjin của nhóm nhạc nữ Loona.
2018: Thành lập và ra mắt chính thức với COLOR*IZ
[sửa | sửa mã nguồn]IZ*ONE được thành lập thông qua chương trình truyền hình thực tế sống còn Produce 48 được phát sóng trên kênh Mnet từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 31 tháng 8 năm 2018. Chương trình là sự hợp tác giữa loạt chương trình Produce 101 Hàn Quốc và nhóm nhạc chị em của AKB48 đến từ Nhật Bản. Từ 96 thí sinh tham gia chương trình, chỉ mười hai thí sinh có thứ hạng cao nhất trong đêm chung kết trực tiếp được lựa chọn và thành lập nên IZ*ONE.[41][42]
IZ*ONE chính thức ra mắt vào ngày 29 tháng 10 năm 2018 với mini-album đầu tay COLOR*IZ cùng bài hát chủ đề "La Vie en Rose" (tiếng Hàn: 라비앙로즈; Romaja: Ra Bi Ang Rojeu).[10][43][44] Cùng ngày, nhóm tổ chức buổi show-con "COLOR*IZ Show-Con" tại Hội trường Olympic, Seoul, Hàn Quốc, và bán hết vé chỉ trong vòng vài phút mở bán.[45][46] IZ*ONE có cúp âm nhạc tuần đầu tiên trong sự nghiệp sau mười ngày chính thức ra mắt trên M Countdown, và phá kỷ lục lúc bấy giờ trở thành nhóm nữ có chiến thắng tuần sớm nhất kể từ lúc ra mắt.[47] COLOR*IZ bán được 34.000 bản trong ngày đầu phát hành, giúp IZ*ONE lập kỷ lục trở thành nhóm nữ có số album ra mắt bán ra trong ngày đầu cao nhất,[48][49] trong khi đó video âm nhạc của bài hát chủ đề "La Vie en Rose" đạt được hơn 4.5 triệu lượt xem trong vòng một ngày kể từ khi phát hành trên YouTube, trở thành video âm nhạc ra mắt có lượng xem trong 24 giờ đầu cao nhất.[50] Mini-album còn đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên Gaon Album Chart và bán tổng cộng hơn 225.000 bản.[51][52] Hiệp hội Nội dung Âm nhạc Hàn Quốc (KMCA) trao chứng nhận Bạch Kim cho COLOR*IZ vào ngày 9 tháng 7 năm 2020, 20 tháng kể từ khi phát hành sau khi album bán được hơn 250.000 bản.[53] Với thành công thương mại kể từ ngày đầu ra mắt, IZ*ONE đã thắng hạng mục "Nghệ sĩ Mới của Năm" tại một số giải thưởng âm nhạc, bao gồm Mnet Asian Music Awards, Golden Disc Awards và Seoul Music Awards.[54] Màn ra mắt của IZ*ONE được Billboard cho là một trong những màn ra mắt đỉnh nhất của K-pop trong năm 2018.[55]
Ngày 6 tháng 12, công ty quản lý Off the Record thông báo nhóm đã ký hợp đồng thu âm với EMI Records Japan, công ty con của Universal Music Japan, nhằm chuẩn bị cho kế hoạch tấn công thị trường Nhật Bản của nhóm vào ngày 6 tháng 2 năm 2019.[56]
2019: Ra mắt tại Nhật Bản, HEART*IZ và tạm ngừng hoạt động
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 20 tháng 1, IZ*ONE tổ chức buổi showcase ra mắt tại Nhật Bản ở Tokyo Dome City Hall để quảng bá cho đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay "Suki to Iwasetai" (好きと言わせたい n.đ. "Muốn anh nói rằng anh thích em").[57] Năm ngày sau sự kiện, ngày 25 tháng 1, nhóm phát hành video âm nhạc cho đĩa đơn, trong khi đó đĩa đơn được chính thức phát hành vào ngày 6 tháng 2.[58] Nó đạt thứ hạng cao nhất là thứ 2 trên cả Oricon Singles Chart lẫn Billboard Japan Hot 100 và bán được hơn 200.000 bản trong tuần đầu tiên.[59][60] Ngày 8 tháng 3, Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) trao chứng nhận Bạch Kim cho đĩa đơn với hơn 250.000 đơn vị được bán ra, đây cũng là chứng nhận Bạch kim đầu tiên trong sự nghiệp của nhóm.[15]
IZ*ONE chính thức trở lại sân khấu Hàn Quốc vào ngày 1 tháng 4 với mini-album thứ hai HEART*IZ cùng bài hát chủ đề "Violeta" (tiếng Hàn: 비올레타; Romaja: Biolleta).[61] Số lượng đặt trước album nội địa vượt 200.000 bản.[62] Sau khi được phát hành, HEART*IZ đứng đầu hai bảng xếp hạng Gaon Album và Oricon Overseas Album Charts, bán hơn 130.000 bản trong tuần đầu tiên, một kỷ lúc mới của nhóm nhạc K-pop nữ thời điểm đó.[63][64] KMCA trao chứng nhận Bạch Kim cho album vào ngày 10 tháng 10 sau khi bán được hơn 250.000 đơn vị.[65] HEART*IZ còn đạt thứ hạng cao nhất là thứ sáu trên bảng xếp hạng Billboard World Albums.[66] Trong khi đó, ca khúc chủ đề "Violeta" đạt thứ hạng cao nhất lần lượt là thứ mười tám và thứ năm trên Gaon Digital Chart và Billboard K-pop Hot 100.[67][68] Bài hát cũng đạt thứ hạng cao nhất là thứ tám trên Billboard World Digital Songs.[66] "Violeta" nhận được chiến thắng tuần đầu tiên trên SBS The Show vào ngày 9 tháng 4.[69]
IZ*ONE chính thức thông báo về chuyến lưu diễn châu Á đầu tiên của mình mang tên Eyes On Me thông qua các trang mạng xã hội, với buổi hòa nhạc đầu tiên được tổ chức tại Nhà thi đấu Jamsil, Seoul, Hàn Quốc trong hai ngày 8 và 9 tháng 6 năm 2019.[70] Tuy nhiên cả hai đêm diễn này đều bán hết sạch vé nên công ty quản lý Off the Record phải bổ sung thêm một buổi diễn nữa vào ngày 7 tháng 6.[71] Trong chuyến lưu diễn, nhóm biểu diễn hai bài hát mới chưa được phát hành trước đó, "Ayayaya" và "So Curious".[72] Nhìn chung, IZ*ONE biểu diễn tại tám thành phố nằm trong năm vùng lãnh thổ, và thu hút được tổng cộng 81.000 khán giả.
Nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ hai mang tên "Buenos Aires" vào ngày 26 tháng 6.[73] Đĩa đơn đứng đầu hai bảng xếp hạng nội địa Oricon Singles Chart và Billboard Japan Hot 100.[74][75] RIAJ trao chứng nhận Bạch Kim cho "Buenos Aires" vào tháng 7 năm 2019.[76] Ngày 25 tháng 9, IZ*ONE phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ ba của nhóm "Vampire".[77] Giống như đĩa đơn trước đó, "Vampire" đứng đầu hai bảng xếp hạng nội địa của Nhật và doanh số tuần đầu tiên đạt 200.000 bản,[78][79] nhờ đó nhận được chứng nhận Vàng của RIAJ.[76] "Vampire" cũng là sản phẩm tiếng Nhật duy nhất của nhóm xuất hiện trong bảng xếp hạng Billboard K-pop Hot 100, đạt thứ hạng cao nhất là 52.[80] Tiếp nối thành công thương mại trước đó, nhóm trở thành nghệ sĩ mới bán đĩa chạy nhất của Oricon trong nửa đầu năm 2019,[81] với doanh thu hơn 510 triệu yên Nhật (xấp xỉ 110 tỷ đồng Việt Nam vào thời điểm đó) tổng cộng tại Nhật từ ngày 10 tháng 12 năm 2018 đến ngày 9 tháng 6 năm 2019.[82][83]
IZ*ONE dự kiến tiếp đó sẽ phát hành album phòng thu tiếng Hàn đầu tay của mình, Bloom*Iz, vào ngày 11 tháng 11 năm 2019.[84] Tuy nhiên album bị hoãn ngày phát hành do cuộc điều tra thao túng phiếu bầu của Mnet, liên quan đến cả Fromis 9 từ Idol School và X1 từ Produce X 101.[85][86][87] Cuộc điều tra cho rằng 12 thành viên của nhóm đã được lựa chọn sẵn từ trước.[88] Do đó tất cả hoạt động của IZ*ONE, từ showcase đến quảng bá hay xuất hiện khách mời cũng đều hoãn vô thời hạn hoặc hủy bỏ,[86][89][90][91][92][93] kể cả bộ phim concert đầu tiên của nhóm IZ*ONE: Ngước nhìn tôi cũng hoãn ngày phát hành,[94] nhóm cũng không được quảng bá tại Nhật,[95][96] và IZ*ONE có nguy cơ phải tan rã.[97]
2020–2021: Quay trở lại hoạt động, BLOOM*IZ, Oneiric Diary, Twelve, One-reeler/Act IV và tan rã
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 6 tháng 1 năm 2020, Off The Record Entertainment chính thức xác nhận rằng tất cả các công ty chủ quản có liên quan cùng với CJ ENM đã đi đến thỏa thuận cho phép các thành viên được tiếp tục hoạt động cùng với nhóm.[98][99] Do đó, IZ*ONE phát hành album phòng thu đầu tiên của mình BLOOM*IZ với bài hát chủ đề "Fiesta" vào ngày 17 tháng 2.[100][101][102] Ngày 23 tháng 2, một tuần sau đó, Bloom*Iz phá kỷ lục trở thành album của nhóm nhạc nữ có số lượng bán ra tuần đầu cao nhất trên Hanteo với 356.313 bản trong bảy ngày; và cũng là nhóm nhạc nữ đầu tiên trong lịch sử bảng xếp hạng Hanteo vượt mốc 300.000 bản tuần đầu. KMCA trao chứng nhận Bạch Kim cho Bloom*Iz vào ngày 9 tháng 4 sau khi bán được 390.000 đơn vị.[103][104] Bên cạnh thành tích nội địa, BLOOM*IZ tiếp nối hai mini-album trước đó đứng đầu Oricon Overseas Album Chart.[105] "Fiesta" có chiến thắng tuần đầu tiên trên The Show của SBS vào ngày 25 tháng 2.
Ngày 19 tháng 5, IZ*ONE xác nhận mini-album thứ ba Oneiric Diary sẽ được phát hành vào ngày 15 tháng 6.[106] Ngày 15 tháng 6 năm 2020, nhóm phát hành Oneiric Diary cùng với bài hát chủ đề "Secret Story of the Swan" (tiếng Hàn: 환상동화; Romaja: Hwansangdonghwa; Hán-Việt: Huyễn Tưởng Đồng Thoại), tuy nhiên video âm nhạc của bài hát lùi ngày phát hành sang trưa ngày hôm sau, ngày 16 tháng 6. Cùng ngày phát hành album, nhóm tổ chức buổi showcase trên kênh YouTube thứ hai của Mnet M2. Ngày 22 tháng 6, IZ*ONE được xác nhận một lần nữa phá kỷ lục doanh số album tuần đầu của nhóm nhạc nữ trên Hanteo lúc bấy giờ, nhóm bán được 389.334 bản trong vòng một tuần kể từ ngày phát hành.[107] Oneiric Diary ghi nhận hơn 510.000 bản được bán ra trên Gaon và nhận được chứng nhận Bạch Kim Kép vào ngày 6 tháng 8, trở thành một trong những album của nhóm nhạc nữ đầu tiên ở Hàn Quốc nhận được chứng nhận này, cùng với album More & More của Twice.[108][109]
Trong tháng 6, nhóm ra mắt phim điện ảnh IZ*ONE: Ngước nhìn tôi (tiếng Anh: Eyes On Me: The Movie), phim từng dự kiến phát hành tháng 11 năm 2019 nhưng bị hoãn ngày công chiếu do lùm xùm xoay quanh nhóm thời điểm đó.[110] Ngày 6 tháng 8, Stone Music Entertainment chính thức thông báo về một buổi hòa nhạc trực tuyến diễn ra trong tháng 9 và bắt đầu mở bán vé từ ngày 11 tháng 8.[111] Ngày 13 tháng 9, IZ*ONE tổ chức buổi hòa nhạc trực tuyến solo đầu tiên của nhóm mang tên Oneiric Theater, đêm diễn kéo dài 160 phút và được hỗ trợ bởi công nghệ thực tế tăng cường và thực tế mở rộng nhằm tăng trải nghiệm cho người xem.[112][113]
Ngày 2 tháng 9, IZ*ONE tiết lộ nhóm sẽ phát hành album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên của mình, Twelve, vào ngày 21 tháng 10.[114] Trước khi chính thức phát hành Twelve hai tuần, vào ngày 7 tháng 10, IZ*ONE phát hành video âm nhạc cho bài hát chủ đề của album, "Beware" trên kênh YouTube chính thức của nhóm.[115] Album ra mắt tại vị trí thứ nhất trên Oricon Album Chart.[116]
Ngày 10 tháng 11, công ty đưa ra thông báo rằng IZ*ONE đang chuẩn bị cho sản phẩm âm nhạc mới sẽ phát hành vào thời điểm nào đó trong vào tháng 12.[117][118] Ngày 17 tháng 11, nhóm xác nhận sẽ quay trở lại vào ngày 7 tháng 12 với mini-album thứ tư One-reeler/Act IV.[119] Trước ngày phát hành album một ngày, ngày 6 tháng 12, tại sân khấu Giải thưởng Âm nhạc Châu Á Mnet năm 2020, IZ*ONE có một màn biểu diễn đặc biệt, lần đầu tiên trình diễn bài hát chủ đề của album "Panorama".[120][121] Album ra mắt tại ví trí đầu tiên trên Gaon Album Chart. Tháng 2 năm 2021, One-reeler/Act IV chính thức nhận được chứng nhận Bạch Kim từ Gaon sau khi bán được hơn 250.000 bản.[122][123]
Vào ngày 26 tháng 1 năm 2021, nhóm phát hành bài hát nhạc số "D-D-Dance" để quảng bá cho nền tảng giải trí K-Pop toàn cầu Universe, với video âm nhạc chính thức phát hành sau đó hai ngày.[124] Vào ngày 10 tháng 2, IZ*ONE xác nhận sẽ tổ chức buổi hòa nhạc trực tuyến mang tên One, The Story vào hai ngày 13 và 14 tháng 3.[125] Ngày 15 tháng 2, năm thành viên Kwon Eun-bi, Miyawaki Sakura, Kim Min-ju, Jo Yu-ri và Jang Won-young cùng tham gia vào đĩa đơn quảng bá "Zero:Attitude" cùng với Soyou, và pH-1. Bài hát được phát hành trong khuôn khổ chiến dịch Pepsi X Starship.[126] Ngoài ra nhóm còn tham gia vào album tổng hợp Rewind: Blossom Side và hát lại ca khúc nổi tiếng "3!4!" của Roo'ra.[127]
Vào giữa tháng 3 năm 2021, Mnet đưa ra thông báo rằng IZ*ONE sẽ tan rã vào tháng 4 năm 2021. "IZ*ONE ra mắt vào năm 2018 với album COLOR*IZ và đã phát triển thành nhóm nhạc nữ đại diện cho châu Á. Họ được yêu thích không chỉ ở Hàn Quốc mà còn trên toàn thế giới. Các hoạt động của IZ*ONE sẽ kết thúc vào tháng 4. Buổi hòa nhạc trực tuyến One, The Story dự kiến sẽ được tổ chức trong hai ngày 13 và 14 tháng 3 để tri ân những khán giả yêu mến IZ*ONE", Mnet thông báo.[18] Sau khi thông tin IZ*ONE sẽ tan rã được công bố, cộng đồng người hâm mộ WIZ*ONE đã phát động Dự án Parallel Universe (tiếng Hàn: 평행우주 프로젝트; Romaja: Pyeonghaeng-uju Peurojekteu; dịch nguyên văn: ""Dự án Vũ trụ Song song"") vào ngày 21 tháng 4 năm 2021 với mục đích ngăn nhóm tan rã. Cái tên "Parallel Universe" xuất phát từ bài hát cùng tên được phát hành trong khuôn khổ buổi hòa nhạc cuối cùng của nhóm, One, The Story. Dự án đạt được cột mốc gây quỹ 1 tỷ Won Hàn Quốc (xấp xỉ hơn 20 tỷ Việt Nam đồng) chỉ sau 20 phút, và đạt hơn 2,186 tỷ Won Hàn Quốc (xấp xỉ 44,5 tỷ Việt Nam đồng) sau hai ngày.[128] Mặc dù nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ cộng đồng người hâm mộ, IZ*ONE vẫn tan rã theo kế hoạch trước đó. Ngày 29 tháng 4 năm 2021, hợp đồng của nhóm chính thức hết hạn, ba thành viên người Nhật là Miyawaki Sakura, Yabuki Nako và Honda Hitomi quay trở về nước, những thành viên còn lại trở về công ty quản lý của mình.[129] Sự tan rã của IZ*ONE được coi là một trong những mất mát lớn nhất và đầu tiên của K-pop trong năm 2021, theo Forbes.[130]
Ngày 19 tháng 6 năm 2021, có thông tin cho rằng CJ ENM và công ty của các thành viên IZ*ONE đang tích cực thảo luận về việc tái khởi động nhóm. Không lâu sau đó CJ ENM đưa ra thông báo rằng thông tin trên là đúng, nhưng các bên vẫn chưa đi đến một quyết định cụ thể nào.[131] Tuy nhiên đến ngày 6 tháng 7, dù đã có sự thảo luận tích cực giữa các bên, kế hoạch tái khởi động IZ*ONE bị huỷ bỏ do các công ty không thể đi đến một kết luận chung.[132]
Các hoạt động khác
[sửa | sửa mã nguồn]Trước khi chính thức ra mắt, IZ*ONE đã làm đại sứ và hợp tác với một số nhãn hàng như trò chơi điện tử Overhit,[133] thương hiệu quần áo Salewa,[134] và đồng phục trường học Skoolooks.[135] Sang đến năm 2019, nhóm tiếp tục trở thành gương mặt đại diện cho mỹ phẩm colorgram:TOK,[136] nền tảng thương mại điện tử G-Market,[137][138] trò chơi điện tử Fever Basket,[139] Sudden Attack[140][141] và ứng dụng di động LG U+ AR. Tuy nhiên, do vướng phải lùm xùm gian lận phiếu bầu của Mnet vào cuối năm 2019, mọi hoạt động của IZ*ONE, bao gồm cả đại sứ và quảng cáo, đều bị đóng băng cho đến khi nhóm hoạt động trở lại tháng 2 năm 2020.[142] Tháng 7 năm 2020, sáu thành viên của IZ*ONE được mời làm người mẫu quảng cáo cho thương hiệu kính áp tròng Miche Bloomin'.[143] Nhóm cũng xuất hiện trên một số tạp chí như Nylon[144] và Non-no.[145] Năm 2021, năm thành viên Kwon Eun-bi, Miyawaki Sakura, Kim Min-ju, Jo Yu-ri và Jang Won-young, kết hợp cùng với Soyou và pH-1 tham gia vào Pepsi 2021 K-Pop Campaign của Pepsi X Starship, chiến dịch là nơi các nghệ sĩ K-Pop sẽ phát hành các ca khúc với những concept khác nhau, và phát hành bài hát "Zero:Attitude".[126]
Phong cách nghệ thuật
[sửa | sửa mã nguồn]Âm nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]Kể từ khi mới ra mắt, IZ*ONE đã hợp tác với hai nhà sản xuất nổi tiếng Han Sung-soo và Akimoto Yasushi, ông Han Sung-soo chịu trách nhiệm cho sản phẩm tiếng Hàn, còn ông Akimoto Yasushi chịu trách nhiệm cho sản phẩm tiếng Nhật của nhóm.[146] Dòng nhạc chính mà IZ*ONE theo đuổi là EDM, cụ thể hơn là electropop và house.[4][11][12][13] Đĩa đơn ra mắt của nhóm, "La vie en Rose", được miêu tả như "một ca khúc electropop sôi động và uyển chuyển, hấp dẫn từ lúc bắt đầu cất lên và pha trộn giữa nhiều yếu tố". Đĩa đơn tiếp theo, "Violeta", là một ca khúc pop kết hợp cùng tropical house với phần mở đầu mang hơi hướng future bass. Sau đó là "Fiesta", một ca khúc future house sôi động với âm bass và âm synth bùng nổ. Sau khi sản xuất xong album Bloom*Iz và khép lại chuỗi tác phẩm Flower series, ông Han Sung-soo thông báo rằng mình sẽ ngừng việc sản xuất âm nhạc cho IZ*ONE kể từ tháng 4 năm 2020.[147]
Các thành viên của IZ*ONE bắt đầu tham gia vào quá trình sản xuất âm nhạc bắt đầu từ mini-album thứ hai Heart*Iz, khi Kim Min-ju và Honda Hitomi cùng tham gia viết lời cho bài hát "Really Like You", Kim Min-ju tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Hàn của "Neko ni Naritai" và Lee Chae-yeon tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Hàn của "Gokigen Sayonara".[148] Tiếp sau đó, trong album phòng thu đầu tiên của nhóm Bloom*Iz, Jang Won-young tham gia viết lời cho bài hát "Dreamlike", Kwon Eun-bi tham gia sáng tác và viết lời cho bài hát "Spaceship", Kim Min-ju tham gia viết lời cho bài hát "You&I" và Jo Yu-ri viết lời cho bài hát "Someday".[149] Sang đến mini-album thứ ba Oneric Diary, Honda Hitomi viết lời cho bài hát "Merry-Go-Round" cả phiên bản tiếng Hàn lẫn tiếng Nhật, Kwon Eun-bi tham gia sáng tác và các thành viên của IZ*ONE viết lời cho bài hát "With*One", và Miyawaki Sakura cùng với Yabuki Nako tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Nhật của bài hát "Secret Story of the Swan".[150]
Chủ đề và hình tượng
[sửa | sửa mã nguồn]Ba album tiếng Hàn đầu tay của IZ*ONE là COLOR*IZ, HEART*IZ, BLOOM*IZ đều nằm trong một chuỗi tác phẩm được gọi là Flower series và mang chủ đề về hoa. COLOR*IZ, phát âm giống như "colorize" có nghĩa là tô màu, mang ý nghĩa mỗi thành viên đều mang một màu sắc riêng biệt. Album chọn màu đỏ, qua trung gian là bông hoa hồng để thể hiện lòng nhiệt huyết của IZ*ONE. Trong video âm nhạc của bài hát chủ đề "La Vie en Rose", các cô gái "mang trên mình bộ trang phục đỏ và trang phục da, giống như chính bài hát tạo nên hai cảm giác đối lập, đó là có sức ảnh hưởng và nữ tính mềm mại", theo Tamar Herman.[12] Nối tiếp COLOR*IZ là HEART*IZ, kết hợp giữa "heart" và "IZ*ONE". Bài hát chủ đề "Violeta" được truyền cảm hứng từ câu chuyện cổ tích "Hoàng tử Hạnh phúc" và đại diện cho hoa tím, hay những người mà nhóm muốn gửi gắm tình cảm; còn IZ*ONE là chú chim én đem viên Saphir hạnh phúc đến cho ai cần; ngoài ra bài hát còn đem đến thông điệp mỗi cá nhân đều có giá trị của riêng mình.[151][152] Những điều đó đều được thể hiện ở vũ đạo con én của "Violeta".[153] Video âm nhạc của bài hát sử dụng "hình ảnh sống động mang chủ đề thiên nhiên", với "cảnh quay technicolor đầy mộng mơ cùng hoa cỏ, lăng kính tỏa sáng, nước té lung linh, và những thiết kế đầy tính thẩm mỹ khác".[154] Khép lại Flower series là BLOOM*IZ, kết hợp giữa "bloom" và "IZ*ONE", mang ý nghĩa mười hai thành viên đang ở đỉnh cao nhan sắc và đã đến lúc nở rộ.[155] Đĩa đơn chủ đề "Fiesta" như mở ra một lễ hội hoa, "lấy những hào nhoáng lấp lánh của những năm 1920 rồi cập nhật thành phiên bản năm 2020, dọn ra một bữa tiệc toát lên vẻ sang trọng và xa hoa bậc nhất khi mười hai cô gái trình diễn ca khúc sôi động và vũ đạo ấn tượng của mình."[156]
Thành viên
[sửa | sửa mã nguồn]Tên | Ngày sinh | Nơi sinh | |||||
Latinh | Hangul | Kana | Hanja/Kanji | Hán–Việt | |||
Kwon Eun-bi[b] | 권은비 | クォン・ウンビ | 權恩菲 | Quyền Ân Phi | 27 tháng 9, 1995 | Seoul, Hàn Quốc | Solo |
Miyawaki Sakura | 미야와키 사쿠라 | みやわきさくら | 宮脇咲良 | Cung Hiếp Tiếu Lương | 19 tháng 3, 1998 | Kagoshima, Nhật Bản | Thành viên nhóm LE SSERAFIM |
Kang Hye-won | 강혜원 | カン・ヘウォン | 姜惠元 | Khương Huệ Nguyên | 5 tháng 7, 1999 | Busan, Hàn Quốc | Diễn viên |
Choi Ye-na | 최예나 | チェ・イェナ | 崔叡娜 | Thôi Duệ Na | 29 tháng 9, 1999 | Seoul, Hàn Quốc | Solo |
Lee Chae-yeon | 이채연 | イ・チェヨン | 李彩演 | Lý Thái Diễn | 11 tháng 1, 2000 | Chungcheong Nam, Hàn Quốc | Solo |
Kim Chae-won | 김채원 | キム・チェウォン | 金采源 | Kim Thái Nguyên | 1 tháng 8, 2000 | Seoul, Hàn Quốc | Thành viên nhóm LE SSERAFIM |
Kim Min-ju | 김민주 | キム・ミンジュ | 金珉周 | Kim Mẫn Châu | 5 tháng 2, 2001 | Seoul, Hàn Quốc | Diễn viên |
Yabuki Nako | 야부키 나코 | やぶきなこ | 矢吹奈子 | Thỉ Xuy Nại Tử | 18 tháng 6, 2001 | Tokyo, Nhật Bản | Trở về Nhật Bản |
Honda Hitomi | 혼다 히토미 | ほんだひとみ | 本田仁美 | Bản Điền Nhân Mỹ | 6 tháng 10, 2001 | Tochigi, Nhật Bản | Thành viên nhóm SAY MY NAME |
Jo Yu-ri | 조유리 | チョ・ユリ | 曺柔理 | Tào Nhu Lý | 22 tháng 10, 2001 | Busan, Hàn Quốc | Solo |
An Yu-jin | 안유진 | アン・ユジン | 安兪真 | An Hữu Trân | 1 tháng 9, 2003 | Chungcheong Bắc, Hàn Quốc | Thành viên nhóm IVE |
Jang Won-young[c] | 장원영 | チャン・ウォニョン | 張員瑛 | Trương Nguyên Anh | 31 tháng 8, 2004 | Seoul, Hàn Quốc | Thành viên nhóm IVE |
- Chú thích: Thành viên In đậm là nhóm trưởng.[157]
Danh sách đĩa nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]
Tiếng Hàn
|
Tiếng Nhật
|
Danh sách phim
[sửa | sửa mã nguồn]Phim điện ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Năm | Tên phim | Vai diễn | Tham khảo |
---|---|---|---|
2020 | IZ*ONE: Ngước nhìn tôi (Eyes On Me: The Movie) | Chính mình | [158][159] |
Chương trình thực tế
[sửa | sửa mã nguồn]Năm | Kênh | Tên chương trình | Ghi chú | Tham khảo |
---|---|---|---|---|
2018 | Mnet BS Sky PerfecTV |
Produce 48 | Chương trình thực tế sống còn thành lập nên IZ*ONE | |
Mnet | IZ*ONE Chu | Chương trình truyền hình thực tế ra mắt | [160] | |
2019 | AbemaTV | IZ*ONE's First Steps in Japan | [161] | |
Pooq | IZ*ONE City | [162] | ||
Mnet | IZ*ONE Chu – Secret Friend | [163] | ||
2020 | IZ*ONE Chu – Fantasy Campus | [164] | ||
U+ Idol Live | IZ*ONE Eat-ing Trip | [165] | ||
Mnet | IZ*ONE Chu – On:Tact | [166] | ||
2021 | U+ Idol Live | IZ*ONE Eat-ing Trip 2 | [167] | |
Universe | Fantastic*Iz: Hidden School | [168] | ||
U+ Idol Live | Iz*One Eat-ing Trip 3 |
Chuyến lưu diễn
[sửa | sửa mã nguồn]Chuyến lưu diễn
[sửa | sửa mã nguồn]- IZ*ONE 1st Concert "Eyes On Me" (2019)
Buổi hòa nhạc độc lập
[sửa | sửa mã nguồn]- COLOR*IZ Show-Con Showcase (2018)[45][46]
- IZ*ONE Japan Debut Showcase 1st Single "Suki to Iwasetai" Release Commemoration Event (2019)[169]
Buổi hòa nhạc trực tuyến
[sửa | sửa mã nguồn]- Iz*One 1st Online Concert "Oneiric Theater" (2020)[112]
- Iz*One 2nd Online Concert "One, The Story" (2021)[125]
Giải thưởng và đề cử
[sửa | sửa mã nguồn]Chỉ vài tháng sau khi ra mắt, IZ*ONE đã nhận được nhiều giải thưởng tân binh ở các lễ trao giải lớn như Asia Artist Awards,[170] Gaon Chart Music Awards,[171] Golden Disc Awards,[172] Mnet Asian Music Awards[173] và Seoul Music Awards.[174] Ngoài ra trong suốt quá trình hoạt động, nhóm còn được đề cử và nhận được một số giải thưởng tại Genie Music Awards,[175] Japan Gold Disc Award,[176][177] MTV Europe Music Awards[178] và Soribada Best K-Music Awards.[179][180]
Trên các chương trình âm nhạc hàng tuần, IZ*ONE đã giành được tổng cộng 21 chiếc cúp. Nhóm nhận được chiếc cúp tuần đầu tiên trong sự nghiệp của mình vào ngày 8 tháng 11 trên chương trình M Countdown với ca khúc "La Vie en Rose", chỉ mười ngày kể từ khi chính thức ra mắt, và lập kỷ lục trở thành nhóm nhạc nữ đạt được cột mốc này nhanh nhất tại thời điểm đó.[47]
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Tháng 8 năm 2021, CJ ENM chính thức hợp nhất các hoạt động sản xuất nội bộ những công ty quản lý của mình là Stone Music Entertainment, One Effect Entertainment, Studio Blu, Off the Record và thành lập nên WakeOne.[1][2]
- ^ Trong tập thứ hai của IZ*ONE Chu, Kwon Eun-bi được các thành viên lựa chọn làm nhóm trưởng.[157]
- ^ Đứng thứ nhất chung cuộc Produce 48, Jang Won-young trở thành gương mặt đại diện của nhóm.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ “CJ ENM "Mnet max 론칭·웨이크원 출범, 음악산업 리더 될 것"”. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2022.
- ^ “Cj Enm "산하 엔터테인먼트 통합해 웨이크원으로 출범"”. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2022.
- ^ “AKSが国内AKB全グループから撤退...HKTなど6グループは独立採算制に”. Daily Sports (bằng tiếng Nhật). ngày 20 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2020.
- ^ a b c Herman, Tamar (ngày 29 tháng 10 năm 2018). “Korean-Japanese Girl Group IZ*ONE Releases First Single 'La Vie en Rose'”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
- ^ Kwak, Yeon-soo (ngày 30 tháng 10 năm 2018). “'Produce 48' project group IZ*ONE makes debut”. The Korea Times. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
- ^ “Fresh out of idol competition show, girl band Iz One debuts with 'Color*Iz'”. The Korea Herald. ngày 29 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
- ^ “아이즈원·프로미스나인, 오프더레코드서 한솥밥(공식)”. NAVER (bằng tiếng Hàn). ngày 21 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2018.
- ^ “[단독] 아이즈원, 플레디스 떠나 CJ+'워너원 소속사' 스윙+오프더 손잡는다”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập 12 tháng 4 năm 2020.
- ^ Yim, Hyun-su (ngày 2 tháng 9 năm 2018). “Meet the 12 members of IZ*ONE as 'Produce 48' wraps up”. Kpop Herald. Herald Corporation. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018.
- ^ a b “[단독] "국민 픽" 아이즈원, 10월 29일 데뷔 확정...본격 韓日 걸그룹” (bằng tiếng Hàn). ngày 4 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2018.
- ^ a b “IZ*ONE DISCOGRAPHY” (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020.
- ^ a b c d “IZ*ONE Bloom Back on World Albums & World Digital Song Sales Charts With Third Album” (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020.
- ^ a b “Mãn nhãn với thế giới cổ tích trong MV "Secret Story of the Swan" của IZ*ONE”. ngày 16 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2020.
- ^ a b Benjamin, Jeff (ngày 8 tháng 11 năm 2018). “IZ*ONE Debut in Top 10 of World Albums & World Digital Song Sales Charts”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2019.
- ^ a b “ハイスタ、欅坂46が3プラチナ キスマイ、IZ*ONE、STU48、NMB48がプラチナ 2月度レコ協認定”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 8 tháng 3 năm 2019. Lưu trữ bản gốc 10 tháng 8 năm 2019. Truy cập 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ “대중 사로잡지 못한 '프로듀스48', 아이즈원은 꽃길을 걸을 수 있을까?”. Within News. ngày 4 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2021.
- ^ “[단독] 아이즈원, 연장 논의 박차...계약 과정에서 잡음 흘러나와”. Ilgan Sports. ngày 12 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2021.
- ^ a b “[전문] 아이즈원 4월 해체 "예정대로 마무리"”. Sports Donga (bằng tiếng Hàn). ngày 10 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2021.
- ^ “아이즈원, 결국 해체 [공식]”. eDaily (bằng tiếng Hàn). ngày 10 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2021.
- ^ “PRODUCE 48” (bằng tiếng Hàn). CJ ENM. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018.
- ^ “'프로듀스48' 장원영·사쿠라에 이채연까지..12人 반전의 최종순위[종합]” (bằng tiếng Hàn). ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018.
- ^ Jang, Woo-young (ngày 31 tháng 8 năm 2018). “'프로듀스48', 데뷔 그룹명은 '아이즈원'”. SpoTV News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020.
- ^ “[이슈Q] '프로듀스48' 아이즈원의 '이모저모', 이름 뜻부터 장원영부터 이채연까지 韓 연습생 소속사는?”. SportsQ (bằng tiếng Hàn). ngày 6 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020.
- ^ Ý nghĩa tên gọi IZ*ONE:
- “IZ*ONE DISCOGRAPHY (xem tab COLOR*IZ)” (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020.
- ^ “IZ*ONE Reveals Fan Club Name On Debut Day”. Soompi (bằng tiếng Anh). 29 tháng 10 năm 2018. Truy cập 10 tháng 4 năm 2020.
- ^ HKT48宮脇咲良の"魂が震える"名言集!常に最前線で戦ってきたパイオニアの覚悟とは!? [HKT48 Sakura Miyawaki's "soul trembling" words of wisdom! What is the resolution of this pioneer who has always fought on the forefront!?]. Nifty News (bằng tiếng Nhật). Nifty Corporation. ngày 7 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018.
- ^ “WHAT'S NEW -NUTS PRODUCTION-” (bằng tiếng Nhật). Nuts Production. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018.
- ^ HKT矢吹奈子、映画「タッチ」南役にメンバー驚き [HKT's Nako Yabuki played Minami in the film "Touch", surprises members]. nikkansports.com (bằng tiếng Nhật). Nikkan Sports. ngày 21 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018.
- ^ 矢吹奈子のCM出演情報 [Nako Yabuki's CM appearance information]. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018.
- ^ HKT48、地元博多で「手をつなぎながら」公演スタート [HKT48 begin start performing at their local Hakata theatre with "Te o Tsunagi nagara" stage]. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2018.
- ^ HKT48ひまわり組の初日公演で3期生サプライズお披露目 [Third generation members make a surprise announcement at the HKT48 Sunflower Team opening day performance]. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2018.
- ^ チーム8の始動メンバーは九州と関東の混成チーム! [Team 8's first members are a mixed team from Kyushu and Kanto]. エンタメNEXT (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2018.
- ^ “권은비, 걸그룹 '예아'로 활동 당시 모습 보니 '핑크색 머리 눈길'”. MTN (bằng tiếng Hàn). ngày 16 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018.
- ^ “K팝3→식스틴→프듀48, 아이즈원 12등 이채연의 감동 스토리[스타와치]”. Newsen (bằng tiếng Hàn). ngày 1 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018.
- ^ “[아이즈원 매력 탐구①] 1위 장원영부터 6위 야부키 나코까지..."국프 사랑 내꺼야"”. MBN (bằng tiếng Hàn). ngày 1 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018.
- ^ “[TV캡처] '프로듀스 48' 김민주 "아이콘 MV·'위대한 유혹자' 출연"”. Stoo Asiae (bằng tiếng Hàn). ngày 15 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
- ^ “김민주, '위대한 유혹자'서 첫 드라마 데뷔...문가영 아역”. tenasia (bằng tiếng Hàn). ngày 13 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2018.
- ^ Lee, Byul (ngày 29 tháng 8 năm 2017). “청순한 '여대생' 같은 아큐브 광고 모델의 놀라운 정체”. Insight (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2018.
- ^ Kim, So-yeon (ngày 11 tháng 4 năm 2018). “'프로듀스48' 출연하는 '올해 16살' 아큐브 모델 안유진”. Insight (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2018.
- ^ “The Groups IZ*ONE Kang HyeWon Almost Debuted In Before Produce 48”. Kpopmap (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2018.
- ^ “'프로듀스48' PD "투표는 한국에서만...최종 12인 국적 구분 NO"”. Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). ngày 11 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018.
- ^ “[★밤TView]'프듀48' 장원영, 1등으로 아이즈원 데뷔..12등 이채연”. Star News (bằng tiếng Hàn). ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018.
- ^ “[단독]프듀48 '아이즈원', 첫 일정 'AKB48 프로듀서와 상견례'...4일 일본行”. Sports Seoul (bằng tiếng Hàn). ngày 2 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
- ^ “아이즈원, 첫 미니 앨범 '컬러아이즈' 오피셜 포토 공개...'채연-민주-채원-히토미'”. Top Star News (bằng tiếng Hàn). ngày 14 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2018.
- ^ a b Ahn, Yun-ji (ngày 16 tháng 10 năm 2018). “아이즈원 측 "29일 쇼콘으로 데뷔 확정"(공식입장)”. MBN (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2018.
- ^ a b “아이즈원, 데뷔 쇼콘 1분만에 전석 매진..'동시접속자 15만 육박'[공식입장]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). ngày 19 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2018.
- ^ a b “아이즈원, '엠카' 1위로 데뷔 첫 트로피..트와이스·케이윌 컴백 [종합]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). ngày 8 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2018.
- ^ “"역시 아이즈원"...하루만에 역대 걸그룹 데뷔앨범 초동 신기록 달성”. OSEN (bằng tiếng Hàn). ngày 30 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
- ^ “아이즈원 데뷔곡 멜론 9위...주요 차트 상위권 안착”. EDaily (bằng tiếng Hàn). ngày 30 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
- ^ “아이즈원, 데뷔 그룹 신기록... '라비앙로즈' MV 24시간 455만뷰”. Seoul Newspaper (bằng tiếng Hàn). ngày 30 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Color*Iz charting peak (see #2)”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2018.
- ^ Doanh số tích lũy của Color*Iz:
- “Color*Iz (Kino) latest sales (see #48)”. Gaon (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019.
- “Color*Iz 2018 sales (see #24)”. Gaon (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019.
- “Color*Iz 2019 latest sales (see #31)”. Gaon (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2019.
- ^ “Color*Iz Platinum Certification”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020.
- ^ “'최고의 루키' 아이즈원, 신인상 5관왕 쾌거..."모두 위즈원의 사랑 덕분"”. iMBC (bằng tiếng Hàn). ngày 1 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2019.
- ^ Herman, Tamar (29 tháng 12 năm 2018). “10 Best New K-Pop Acts of 2018”. Billboard. Truy cập 13 tháng 5 năm 2020.
- ^ “아이즈원, 내년 2월 日 데뷔...글로벌 행보 시작”. Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). ngày 6 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019.
- ^ “IZ*ONE、日本デビューショーケースが大盛況!「世界の方に愛されるIZ*ONEでいたい」(M-ON!Press(エムオンプレス)) – ...”. archive.is. ngày 3 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019.Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
- ^ “YouTube Stats of IZ*ONE (아이즈원) – '好きと言わせたい (Suki to Iwasetai)' MV”. kworb.net. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019.
- ^ “IZ*ONEが合算シングルでも1位【オリコンランキング】”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 3 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020.
- ^ “【ビルボード】Kis-My-Ft2「君を大好きだ」が3冠で総合首位獲得 総合2位のIZ*ONE「好きと言わせたい」とわずか約250ポイント差”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). ngày 13 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020.
- ^ “"글로벌 꽃길은 계속" 아이즈원, 韓日서 예고한 2번째 신드롬(종합)”. YTN (bằng tiếng Hàn). ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
- ^ Park, Jin-young (ngày 29 tháng 3 năm 2019). “아이즈원, 미니 2집 선주문 판매량 20만 돌파..대세 그룹 입증 [공식입장]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019 – qua Naver.
- ^ Kim, Sun-woo (ngày 8 tháng 4 năm 2019). “아이즈원, 역대 걸그룹 앨범 초동 신기록...13만장 돌파”. Sports Seoul (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2020.
- ^ Kim, Kyung-hee (ngày 11 tháng 4 năm 2019). “아이즈원(IZ*ONE), '하트아이즈(HEART*IZ)'으로 日 오리콘 해외 앨범 차트 1위”. Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2019.
- ^ “Heart*Iz's Platinum certification”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2020.
- ^ a b Benjamin, Jeff (ngày 15 tháng 4 năm 2019). “IZ*ONE Hits New Peak on World Albums Chart With 'HEART*IZ'”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2020.
- ^ “"Violeta" on Gaon Digital Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020.
- ^ “"Violeta" on Billboard K-pop 100”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020.
- ^ Jeong, An-ji (ngày 10 tháng 4 năm 2019). “'더쇼' 아이즈원, 컴백 9일 만에 '비올레타' 1위...깜찍 제비 분장 공약”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2019.
- ^ “아이즈원, 6월 데뷔 첫 단독 콘서트 개최..5월 티켓 오픈 [공식입장]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). ngày 25 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2019.
- ^ “아이즈원, 데뷔 첫 콘서트 선예매 전석 매진..역대급 티켓 전쟁 [공식]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). ngày 8 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2019.
- ^ Jo, Sung-woon (ngày 10 tháng 6 năm 2019). “[종합] "또 다른 기적" 아이즈원 첫 단독 콘서트, 눈물의 마무리”. Sports DongA (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2020.
- ^ “IZ*ONE、シングル『Buenos Aires』MV公開”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). ngày 13 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020.
- ^ “"Bueno Aires" on Oricon Singles Chart” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ “"Buenos Aires" on Billboard Japan Hot 100”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2019.
- ^ a b “ゴールドディスク認定 一般社団法人 日本レコード協会” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019. Note: To retrieve all album certifications, 1) type in IZ*ONE in the box "アーティスト", 2) click 検索
- ^ “IZ*ONE 日本3rdシングル「Vampire」WIZ*ONE盤CD発売記念 「個別ハイタッチ会」「個別メッセージカードお渡し会」「個別サイン会」開催のご案内 | News”. IZ*ONE Japan Official Site. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2020.
- ^ “"Vampire" on Billboard Japan Hot 100”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2019.
- ^ “IZ*ONE、シングル2作連続1位 3作連続初週売上20万枚超え【オリコンランキング】”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020.
- ^ 21 tháng 9 năm 2019 “"Vampire" on Billboard K-pop Hot 100” Kiểm tra giá trị
|url=
(trợ giúp). ngày 21 tháng 9 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020. - ^ “IZ*ONE、上半期新女王に手応え 宮脇咲良「まだまだ達成したいことがある」”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 22 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020.
- ^ “【オリコン上半期】IZ*ONE、新人部門総売上額1位”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 20 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020.
- ^ “[문화광장] 한일 합작 걸그룹 '아이즈원' 일본 오리콘차트 1위”. KBS News (bằng tiếng Hàn). ngày 28 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020.
- ^ “아이즈원, 11월 11일 첫 정규 앨범 '블룸아이즈'로 컴백...트레일러 영상 공개”. Naver (bằng tiếng Hàn). ngày 30 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2019.
- ^ “Mnet 측 "아이즈원 컴백 연기 확정, 물의 일으켜 진심으로 사과"(공식입장)”. Naver (bằng tiếng Hàn). ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
- ^ a b “Girl band IZ*ONE postpones release of new album amid vote-rigging scandal”. The Korea Herald. ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
- ^ “IZONE hủy họp báo comeback vì bê bối gian lận tại Produce 48”. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2023.
- ^ Kang, Jin-goo (ngày 5 tháng 12 năm 2019). “[단독] 아이즈원ㆍ엑스원 멤버 전원 시청자 투표 전 결정”. news.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
- ^ “tvN "'놀토' 9일 결방, 하이라이트 방송"..아이즈원 논란에 休(공식)”. Star News (bằng tiếng Hàn). ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
- ^ “[공식입장]MBC 측 "'마리텔2' 아이즈원, 안유진 포함 출연분 통편집 확정"(종합)”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
- ^ “아이즈원, 컴백쇼도 결국 취소...엠넷 재팬 발표 "대단히 죄송" 사과 [공식]”. My Daily (bằng tiếng Hàn). ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
- ^ “[공식입장]JTBC "아이즈원, '아이돌룸' 녹화 이미 완료...방송 여부 미정"”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
- ^ “아이즈원, 11일 컴백 쇼케이스 결국 취소(공식)”. Star News (bằng tiếng Hàn). ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
- ^ “IZ*ONEコンサートフィルム中止、関係者が逮捕”. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). ngày 8 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2019.
- ^ “IZ*ONE、日本での各種イベントが延期に”. Oricon (bằng tiếng Nhật). ngày 28 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.
- ^ “IZ*ONE、ファンクラブサイト更新&新規受付を一時休止 投票不正操作疑惑の余波”. Oricon (bằng tiếng Nhật). ngày 4 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2019.
- ^ “IZONE và X1: Bị tẩy chay, đứng trước nguy cơ tan rã”. ione. ngày 8 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2020.
- ^ “[단독] 아이즈원, 이르면 1월 내 활동 재개...이미 합의 완료”. SpoTVNews (bằng tiếng Hàn). ngày 6 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2020 – qua Naver.
- ^ “[단독] 아이즈원, 활동 재개 합의 완료”. TenAsia (bằng tiếng Hàn). ngày 6 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020 – qua Naver.
- ^ “Gần 3 tháng ngừng hoạt động, IZ*ONE 'lẳng lặng' tung bộ ảnh mới với concept cô dâu mừng ngày comeback”.
- ^ “아이즈원, 오늘(17일) 컴백...정규 1집 앨범 발매”. Asiae (bằng tiếng Hàn). ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2020 – qua Naver.
- ^ “아이즈원, 오늘(17일) 정규 '블룸아이즈' 발매...컴백쇼 개최”. YTN (bằng tiếng Hàn). ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2020 – qua Naver.
- ^ “2020년 02월 Album Chart”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
- ^ “Bloom*Iz's Platinum Certification”. Gaon Music Chart. ngày 9 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
- ^ Yonhap (ngày 26 tháng 2 năm 2020). “IZ*ONE's 'Bloom*Iz' tops Oricon weekly overseas album chart”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
- ^ “아이즈원, 6월 15일 컴백 확정...준비된 콘텐츠 순차적으로 공개 [공식]”. Xportsnews (bằng tiếng Hàn). ngày 18 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020 – qua Naver.
- ^ “걸그룹 아이즈원, '환상일기' 38만9000장 판매 기록...역대 걸그룹 최고 기록”. Munhwa Ilbo (bằng tiếng Hàn). ngày 22 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2020 – qua Naver.
- ^ “2020년 06월 Album Chart”. Gaon Music Chart. ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
- ^ “Oneiric Diary's Double Platinum Certification”. Gaon Music Chart. ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
- ^ “아이즈원 영화 '아이즈: 온 미', 7개월 만에 개봉..예매율 1위”. Sports News (bằng tiếng Hàn). ngày 8 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2021.
- ^ Ahn, Jin-yong (ngày 6 tháng 8 năm 2020). “아이즈원(IZ*ONE), 9월 온라인 콘서트 'ONEIRIC THEATER' 개최... 11일 티켓 오픈”. Munhwa Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2021.
- ^ a b “아이즈원, 온라인 콘서트 'ONEIRIC THEATER'”. Naver News (bằng tiếng Hàn). ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020.
- ^ “IZ*ONEが生バンド従え新たな顔見せた配信ライブ、意外な選曲続出のユニットコーナーも”. Natalie (bằng tiếng Nhật). ngày 15 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020.
- ^ 2 tháng 9 năm 2020/ “IZ*ONE日本1stアルバム「Twelve」 リリース決定” Kiểm tra giá trị
|url=
(trợ giúp). Universal Music Japan (bằng tiếng Nhật). ngày 2 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.[liên kết hỏng] - ^ “ガオガオダンスに注目!IZ*ONE(アイズワン)日本1stアルバム「Twelve」タイトル曲「Beware」MV公開”. K-Plaza (bằng tiếng Nhật). ngày 7 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020.
- ^ 2 tháng 11 năm 2020/ 週間 アルバムランキング 2020年11月02日付 Kiểm tra giá trị
|url=
(trợ giúp) [Weekly Album Ranking 2020/11/02] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020. - ^ Hwang, Ji-young (ngày 10 tháng 11 năm 2020). “아이즈원, 12월 컴백...막바지 앨범 작업 중 [공식]”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
- ^ “5 tháng trước khi hết hạn hợp đồng, IZ*ONE thông báo comeback vào tháng Mười Hai”. Billboard Vietnam. 10 tháng 11 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập 11 tháng 3 năm 2021.
- ^ “[단독] 아이즈원, 12월 7일 컴백 확정”. Naver (bằng tiếng Hàn). ngày 17 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2020.
- ^ “[공식] 아이즈원, '2020 MAMA'서 신곡 '파노라마' 무대 최초공개”. Sports Chosun. ngày 6 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
- ^ “IZ*ONE chốt năm bằng MV "Panorama", gây ấn tượng từ giây đầu tiên với vũ đạo "hoa nở"”. Billboard Vietnam. 7 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2023. Truy cập 11 tháng 3 năm 2021.
- ^ Doanh số tổng của One-reeler / Act IV: 437,282 (CD) + 19,051 (Kit)
- “2020년 12월 Album Chart (One-reeler / Act IV: see #2 (CD), #22 (Kit))”. Gaon (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Association. Truy cập 7 tháng 1 năm 2021.
- “2021년 01월 Album Chart (One-reeler / Act IV: see #61 (CD)”. Gaon (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Association. Truy cập 11 tháng 2 năm 2021.
- ^ “Gaon Certification - Album”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Association. Truy cập 11 tháng 2 năm 2021.
- ^ “NCSoft ra mắt nền tảng giải trí K-pop toàn cầu mới "Universe"”. 29 tháng 1 năm 2021. Truy cập 11 tháng 3 năm 2021.
- ^ a b “아이즈원, 온라인 콘서트 3월 개최”. eDaily (bằng tiếng Hàn). 10 tháng 2 năm 2021. Truy cập 11 tháng 3 năm 2021.
- ^ a b “소유X아이즈원XpH-1, 신곡 'ZERO:ATTITUDE' M/V 티저 공개”. iMBC 연예 (bằng tiếng Hàn). ngày 14 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2021.
- ^ “IZ*ONE to remake Roo'ra's '3!4!' for 'Rewind: Blossom' project Part. 2”. allkpop. Lưu trữ bản gốc 12 tháng 4 năm 2021. Truy cập 7 tháng 4 năm 2021.
- ^ “IZ*ONE fans raise US$2million in hopes of keeping the group from disbanding”. NME (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
- ^ “[단독]"안녕 위즈원~" 히토미 눈물-사쿠라 위로-나코 미소 속 아이즈원 日멤버 귀국[종합][★NEWSing]”. Star News (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 4 năm 2021. Truy cập 29 tháng 4 năm 2021.
- ^ “Iz*One's Disbandment Marks The First Great Loss In K-Pop Of 2021”. Forbes (bằng tiếng Anh). 28 tháng 4 năm 2021. Truy cập 1 tháng 5 năm 2021.
- ^ “Người hâm mộ Hàn Quốc chờ đợi màn tái hợp của IZ*ONE”. Lao Động Trẻ. Ngày 19 tháng 6 năm 2021. Truy cập Ngày 20 tháng 6 năm 2021.
- ^ Ziwei, Puah (6 tháng 7 năm 2021). “Talks to reunite IZ*ONE have allegedly fallen though”. NME (bằng tiếng Anh). Truy cập 6 tháng 7 năm 2021.
- ^ “IZ*ONE put on their trainee uniforms once again for mobile game 'OVERHIT' CF shooting + interview”. Allkpop. Beansss. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2018.
- ^ “IZ*ONE x SALEWA winter coat collaboration excites fans worldwide”. Neo-Tokyo 2099. ngày 24 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2018.
- ^ “아이즈원, 광고 모델로 화려한 나들이 '에쁜 애 옆에 또 예쁜 애'”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). ngày 15 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
- ^ “올리브영, '아이즈원'과 K-뷰티 브랜드 '컬러그램톡' 론칭”. Cos'in Korea. ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018.
- ^ “G마켓, 새 모델로 걸그룹 '아이즈원' 발탁”. Yonhap News. ngày 4 tháng 1 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018.
- ^ “G마켓, 아이즈원 모델로 `G마켓은 됨` 캠페인 광고 온에어”. ngày 19 tháng 6 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018.
- ^ “룽투, '피버 파스켓' 홍보모델로 '아이즈원' 선정”. ngày 27 tháng 2 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018.
- ^ “넥슨 '서든어택', '통합시즌: 서든패스' 업데이트...'아이즈원' 신규 캐릭터로 등장”. ngày 1 tháng 8 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018.
- ^ “여성 아이돌 '아이즈원'이 서든어택 캐릭터로 나온다”. ngày 1 tháng 8 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018.
- ^ “"아이즈원, 하룻밤새 방송·광고·영화계에서 '손절' 당했다"” (bằng tiếng Hàn). ngày 8 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020.
- ^ “ミッシュブルーミン カラーコンタクトレンズのブランドミューズにIZ*ONEのメンバーから6名が決定!” (bằng tiếng Nhật). 31 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
- ^ “아이즈원, 데뷔 첫 패션지 표지모델 장식 '위즈원 궁금증에 답해요'”. Sports DongA (bằng tiếng Hàn). ngày 16 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2020.
- ^ “아이즈원, 데뷔 전 日 '논노' 화보 참여...독점 취재”. Sports DongA (bằng tiếng Hàn). ngày 27 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
- ^ “"'우익 그룹' 아이즈원 방송 출연 그만" 여론 악화...청와대 국민청원까지”. Sports Today (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 11 năm 2018. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.[liên kết hỏng]
- ^ “플레디스 한성수 대표 "아이즈원 프로듀싱 내달 마무리"(종합)”. Yonhap News (bằng tiếng Hàn). Ngày 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.
- ^ “IZ*ONE returns with new flower-themed album”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.
- ^ “아이즈원 권은비·조유리 자작곡에 장원영·김민주 작사 참여”. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). Ngày 4 tháng 11 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.
- ^ “'15일 컴백' 아이즈원, 'Oneiric Diary' 타이틀곡은 '환상동화'..멤버들 수록곡 작사[공식]”. Osen (bằng tiếng Hàn). Ngày 8 tháng 6 năm 2020. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.
- ^ “IZ*ONE Calls You Their "Violeta"”. The Kraze (bằng tiếng Anh). Ngày 3 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.
- ^ “IZone shows special love for fans through 'Violeta'”. Osen (bằng tiếng Anh). Ngày 2 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.
- ^ “'컴백' 아이즈원, 12색으로 피워낼 #비올레타 #콘서트 #소통 [종합]”. Xports news (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.
- ^ “IZ*ONE Return to the K-Pop Scene With Vibrant 'Violeta' Video: Watch”. Billboard (bằng tiếng Anh). Ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.
- ^ “아이즈원, 컴백 확정...정규 1집 커버 이미지 공개”. Kikmin Ilbo (bằng tiếng Hàn). Ngày 3 tháng 2 năm 2020. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.
- ^ “IZ*ONE Return Following Hiatus with Celebratory 'Fiesta': Watch the Music Video”. Billboard (bằng tiếng Anh). Ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018.
- ^ a b “'아이즈원 츄' 권은비, 리더 몰카에 눈물...안유진X이채연 메소드 연기?”. MK Sports. ngày 2 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2018.
- ^ Kim, Hyun-Jung (ngày 19 tháng 5 năm 2020). “[단독] '6월 15일 컴백' 아이즈원, 뮤직비디오 촬영 완료 '기대감↑'”. X Sports News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2020.
- ^ Lee, Jung-bum (ngày 21 tháng 10 năm 2019). “'아이즈 온 미', 예고편이 공개되는 순간 모두가 주목해 #11월극장으로가즈원 #아이즈원”. X Sports News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ^ Hwang, Ji-young (ngày 12 tháng 10 năm 2018). “아이즈원 리얼리티 '아이즈원 츄', 25일 Mnet 첫 방송”. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019.
- ^ Lee, Da-gyeom (ngày 8 tháng 1 năm 2019). “아이즈원, 첫 단독 웹예능 '입덕스쿨 아이즈원시티' 출격”. Maekyung (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019 – qua Naver.
- ^ Jeong, An-ji (ngày 8 tháng 1 năm 2019). “아이즈원, 첫 단독 웹예능 출격... 입덕스쿨 아이즈원시티”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019 – qua Naver.
- ^ Kim, Ye-eun (ngày 15 tháng 3 năm 2019). “'아이즈원츄2' 티저, 교복 입은 러블리 아이즈원”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019 – qua Naver.
- ^ Hwang, Ji-young (ngày 12 tháng 5 năm 2020). “아이즈원 리얼리티 '아이즈원츄3' 6월 편성..여름 컴백”. Ilgan Sports (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2020 – qua Daum.
- ^ “U+아이돌라이브, 아이즈원 속초 '먹방' 여행 단독공개”. iNews24 (bằng tiếng Hàn). ngày 26 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ^ Hwang, Mi-hyun (ngày 15 tháng 9 năm 2020). “엠넷 '아이즈원츄', 23일 첫방송 확정...온택트 시대 리얼 일상”. News1 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2020.
- ^ “LGU+ Unveils IZone's Eat-ing Trip Season 2”. Enews Today (bằng tiếng eng). 27 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2021. Truy cập 4 tháng 2 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
- ^ “Universe App teases new IZ*ONE variety show 'Fantastic IZ: Hidden School'”. Allkpop (bằng tiếng Anh). 11 tháng 2 năm 2021. Truy cập 11 tháng 3 năm 2021.
- ^ “IZ*ONE、"グローバルアイドル"への大きな可能性 日本デビューショーケースイベントを観て”. Real Sound (bằng tiếng Nhật). ngày 26 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019.
- ^
- Jung, Kyung-won (ngày 28 tháng 11 năm 2018). “[2018 AAA] 아이즈원·스트레이키즈·(여자)아이들·더보이즈, 신인상 수상”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2018 – qua Naver.
- Lee, Ji-hyun (ngày 28 tháng 11 năm 2018). “[2018 AAA] 아이즈원-스트레이키즈-아이들-더보이즈, 신인상 수상”. News1 (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2018 – qua Naver.
- ^ Lee, Eun-ho (ngày 23 tháng 1 năm 2019). “'가온차트뮤직어워드' 방탄소년단·아이콘 3관왕...허전한 가수석은 아쉬워”. Kuki News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019.
- ^ “(종합)방탄소년단, 음반 대상·본상·인기상 싹쓸이...'4관왕 기염'[2019 골든디스크]”. Sports MK (bằng tiếng Hàn). ngày 6 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019 – qua Naver.
- ^ *Sung, Mi-kyung (ngày 2 tháng 11 năm 2018). “방탄소년단·워너원·트와이스·아이즈원, '2018 MAMA' 뜬다..초호화 라인업 확정[공식입장]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2018 – qua Naver.
- Tan, Pakkee (ngày 16 tháng 12 năm 2018). “2018 Mnet Asian Music Awards Winners: The Complete List”. E! News. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019.
- ^ Herman, Tamar (ngày 16 tháng 1 năm 2019). “BTS Wins Top Prize at 28th Seoul Music Awards”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019.
- ^ “[MGMA] 방탄소년단, 대상 포함 6관왕 폭주...트와이스 '2관왕' (종합)”. Maekyung (bằng tiếng Hàn). ngày 1 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2019.
- ^ “第34回日本ゴールドディスク大賞”. Japan Gold Disc Award (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2020.
- ^ “아이즈원, 日 골드 디스크 2관왕 달성.."응원해준 팬 여러분 덕분"”. Naver. ngày 27 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2020.
- ^ “Ateez named Best Korean Act at MTV EMAs 2019 one year after their debut”. Metro UK (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2020.
- ^ “'2019 SOBA' 박지훈vs방탄소년단, 트와이스vs마마무 남·녀 인기상 1위 경쟁 '치열'”. Maekyung (bằng tiếng Hàn). ngày 11 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2019.
- ^ “'Winners Of 2020 Soribada Best K-Music Awards'”. J.K (bằng tiếng Hàn). ngày 13 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]